- Tranh chấp gì? án dân sự — "nợ"
- Tòa quyết gì? 1/ Buộc bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ trả số tiền nợ từ việc mua phân bón và thuốc trừ sâu là 115.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2023/DS-ST Ngày: 30 – 5 – 2023 “V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Dương Sơn
2. Ông Phù Thọ Bổn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Xuân Cường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương - tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương tham gia phiên tòa: không thuộc trường hợp tham gia.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2023/TLST-DS Ngày 18 tháng 4 năm 2023: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2023/QĐXXST-DS, ngày 12 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T – là chủ hộ kinh doanh Nguyễn Thanh T, có mặt.
Địa chỉ: Tổ 5, ấp Kiên T, xã K, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Phạm Thị N, sinh năm 1982, có mặt.
Địa chỉ: Tổ 2, ấp H, xã H, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1975
(Chồng bà N), có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ 2, ấp H, xã H, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày:
Ngày 03/12/2021 bà N có mua phân bón, thuốc trừ sâu của cửa hàng Nguyễn Thanh T do anh T làm chủ hộ kinh doanh với số tiền là 130.000.000đồng và có hẹn trả vào vụ hè – thu 2022 (tháng 10/2022 – dương lịch) là 20.000.000đồng và vụ đông – xuân trả 30.000.000đồng, nhưng đến nay anh T chưa nhận được số tiền như trên. Sau khi khởi kiện bà N có trả được một phần.
Tại phiên tòa, anh T yêu cầu Tòa án buộc bà N và chồng là Nguyễn Văn M trả một lần hết số nợ 115.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi.
- Tại tờ tường trình và tại phiên tòa bị đơn bà Phạm Thị N và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn M trình bày:
Vợ chồng bà N, ông M cũng thừa nhận có mua phân thuốc của cửa hàng Nguyễn Thanh T vụ đông – xuân năm 2018 – 2019 với số tiền là 30.000.000đồng do mất mùa nên không trả được.
Tới vụ hè – thu có mua thiếu thêm của nguyên đơn tổng cộng nợ và lãi là 12.864.000đồng. Như vậy bà N ông M còn nợ lại là 30.000.000đồng + 12.864.000đồng = 42.864.000đồng.
Số nợ vợ chồng bà N ông M cũng thừa nhận còn thiếu của nguyên đơn số tiền 130.000.000đồng – 5.000.000đồng (tiền lãi bên đại lý kê) và đã trả 10.000.000đồng (trả vào ngày 12/4/2023), như vậy thì vợ chồng bà Nam còn nợ lại nguyên đơn số tiền là 115.000.000đồng.
Về cách trả nợ thì vào vụ lúa hè – thu (tháng 9 dương lịch năm 2023) vợ chồng ông bà sẽ trả tổng cộng 15.000.000đ mỗi năm, cụ thể: Trả 5.000.000đồng và đến vụ đông – xuân năm 2024 (tháng 4 dương lịch năm 2024) sẽ trả số tiền là 10.000.000đồng và sẽ trả vào hai vụ lúa của các năm tiếp theo (trả vào tháng 9 và tháng 4 hàng năm) giống số tiền nêu trên cho đến khi hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp “Hợp đồng dân sự về mua bán tài sản”, bị đơn bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Văn M có nơi cư trú tại ấp Hòa Lạc, xã Hòa Điền, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu vợ chồng bà Phạm Thị N, ông Nguyễn Văn M trả tiền phát sinh từ hợp đồng mua bán phân bón và thuốc trừ sâu là 115.000.000đồng, xét thấy yêu cầu này có cơ sở chấp nhận bởi lẽ bà N và ông M cũng thừa nhận có mua phân bón và thuốc trừ sâu còn nợ lại số tiền nói trên. Do đó buộc bị đơn bà Phạm Thị N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 115.000.000đồng là phù hợp với Điều 430, 440 Bộ luật dân sự.
Nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét yêu cầu của bà N, ông M về việc xin trả dần số nợ mỗi năm là 15.000.000đồng là không có cơ sở chấp nhận, do yêu cầu của ông, bà không được nguyên đơn đồng ý. Hơn nữa Bộ luật dân sự cũng không quy định thời gian trả chậm nếu các đương sự không có thoả thuận. Phương thức thanh toán nợ như thế nào thuộc thẩm quyền xem xét, giải quyết của Cơ quan thi hành án.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà N, ông M bị buộc trả số tiền 115.000.000đồng, nên phải chịu án phí 5.750.000đồng.
Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên được nhận lại án phí tạm nộp. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 430, 440 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử:
1/ Buộc bà Phạm Thị N và ông Nguyễn Văn M có nghĩa vụ trả số tiền nợ từ việc mua phân bón và thuốc trừ sâu là 115.000.000đồng cho ông Nguyễn Thanh T là chủ hộ kinh doanh Nguyễn Thanh T.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
2/ Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.
Bị đơn bà Phạm Thị N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 5.750.000đồng.
Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T là chủ hộ kinh doanh Nguyễn Thanh T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 3.250.000đ theo lai thu số 0006907 ngày 18/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
3/ Báo cho nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/5/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 a, b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Kiên Giang - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Kiên Lương; - Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu tập án, hồ sơ; - Lưu VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Minh |