- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (20/4/2022).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2022/HSST Ngày 20/7/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tất Bẩy.
2. Ông Vũ Ngọc Côn.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu Trại giam công an tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2022/HSST ngày 01 tháng 07 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2022/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 07 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, Sinh năm 1986; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố L, T.T C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1952 (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1953 (Đã chết); Có vợ: Lăng Thị T, sinh năm 1984 (Đã ly hôn) và con: Có 01 con, sinh năm 2008; Anh, chị em ruột: Có 09 anh chị em ruột, bị cáo là thứ tám; Tiền án: Không.
Tiền sự: có 01 tiền sự.
Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 127/QĐ-XPHC ngày 11/9/2021 của Công an huyện Lục Ngạn, xử phạt Nguyễn Văn T số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Đến nay Nguyễn Văn T chưa chấp hành xong Quyết định.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/4/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
1/ Anh Hoàng Văn T, sinh năm1974 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Trú tại: Thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
2/ Chị Trần Thị T, sinh năm 1966 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Trú tại: TDP M, T.T C, huyện L, Lục Ngạn, Bắc Giang.
3/ Chị Trần Thị L, sinh năm 197 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Trú tại: TDP T, T.T C, Lục Ngạn, Bắc Giang.
* Ngƣời có quyền và nghĩa vụ liên quan:
1/ Trần Văn P, sinh năm 1993 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Trú tại: Thôn T, xã G, huyện L, Bắc Giang.
2/ Đinh Thanh H, sinh năm 1967 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)..
- Trú tại: Thôn T, xã T, huyện L, Bắc Giang.
3/ Lục Văn H, sinh năm 1998 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Trú tại: Thôn N, xã H, huyện L, Bắc Giang.
4/ Lê Mạnh C, sinh năm 1959 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Trú tại: TDP M, T.T C, huyện L, Lục Ngạn, Bắc Giang.
5/ Lâm Văn N, sinh năm 1971 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
6/ Lý Thị T, sinh năm 1977 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
- Đều trú tại: TDP Lê Duẩn, T.T Chũ, Lục Ngạn, Bắc Giang.
7/ Trương Văn V, sinh năm 1968 (Vắng mặt).
- Trú tại: TDP C, P. L, Q. L, T.P H Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Văn T, sinh năm 1986, trú tại TDP , thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng chưa chấp hành. Trong các ngày 17/10/2021, 09/11/2021 và ngày 18/4/2022 Nguyễn Văn T đã ba lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn thị trấn C, huyện L để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 09/11/2021, Nguyễn Văn T từ nhà đi bộ dọc theo đường Quốc lộ 31 hướng Sơn Động đi Bắc Giang, khi đi đến hiệu thuốc “Chi Phú” thuộc địa phận tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L thì T nhìn thấy có 01 xe đạp mini, nhãn hiệu HPPY EVERYDAY IN NEW FRSHION, màu sơn tím, có giỏ xe dựng trước cửa hiệu thuốc, sát gần đường Quốc lộ 31. Đó là xe đạp của bà Trần Thị T, sinh năm 1966, trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L đến mua thuốc dựng ở đó. T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe đạp trên. T quan sát không thấy ai trông coi, xung quanh không có người để ý nên T tiến lại chỗ chiếc xe đạp và dắt xe ra ngoài đường. Sau đó T ngồi lên xe và đạp đến cửa hàng thu mua phế liệu của ông Lê Mạnh C, sinh năm 1959, trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L bán cho ông C với giá 100.000 đồng, số tiền này T sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Còn bà T sau khi mua thuốc xong quay ra phát hiện mất xe nên đã có đơn trình báo Công an thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn. Sau đó Công an thị trấn Chũ đã chuyển hồ sơ cùng tang vật đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn để giải quyết theo thẩm quyền.
Vụ thứ hai: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 18/4/2022, Nguyễn Văn T từ nhà đi bộ đến Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L với mục đích để tìm xem nhà nào có tài sản sở hở thì trộm cắp. Khi T đi đến khu vực nhà chị Trần Thị L, sinh năm 1971, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, thấy nhà tắt điện, đóng cổng, phía sau nhà chị L có một vườn hoa lan. T quan sát xung quanh thấy không có ai nên đã trèo qua vành lao vào trong vườn hoa lan lấy 02 (hai) giò hoa lan phi điệp tím, đang nở hoa, thân cây lan có chiều dài trung bình 50cm, đường kính thân trung bình 0,75cm treo ở trên thanh sắt. Sau đó T cầm hai giò hoa lan rồi trèo qua tường vành lao ra ngoài và mang 02 (hai) giò hoa lan trộm cắp được đi tìm nơi bán. Khi T cầm hai giò hoa lan trên đi đến khu vực tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L thì gặp vợ chồng ông Lâm Văn N, sinh năm 1971 và bà Lý Thị T, sinh năm 1977 cùng trú tại TDP , thị trấn C, huyện L, T đã bán 02 giò hoa lan trên cho vợ chồng anh N, bà T với giá 200.000 đồng. Số tiền trên T đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết. Buổi sáng cùng ngày khi chị Trần Thị L ngủ dậy phát hiện bị mất 02 (hai) giò hoa lan phi điệp tím nên đã trình báo Công an huyện Lục Ngạn.
Vụ thứ ba: Khoảng 20 giờ ngày 17/10/2021, Trần Văn P, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã G, huyện L(là bạn bè quen biết xã hội với T) đến nhà T xin ngủ nhờ. T nhất trí và bảo P trông nhà hộ, còn T đi bộ đến khu vực nhà đang xây dựng của gia đình ông Trương Văn Năm, sinh năm 1964 ở TDP , thị trấn C, huyện L (hiện nhà ông N đang được anh Hoàng Văn T, sinh năm 1974, trú tại thôn T, xã Q, huyện L thi công xây dựng). T quan sát xung quanh không thấy có ai, T trèo qua vành lao đi vào trong nhà thấy có một phòng để đồ, vật liệu xây dựng đã khóa cửa. T nhìn qua khe cửa thì thấy có 01 (một) củ mô tơ điện 2,2Kw, màu xanh, nhãn hiệu Điện cơ Trần Hưng Đạo có dính vữa để ở bên trong. T quan sát xung quanh bên ngoài căn phòng phát hiện thấy có một ô thoáng hình vuông kích thước (60x40)cm, cao khoảng 02 (hai)m so với nền nhà, không đóng cửa. T lấy chiếc thang gỗ ở gần đó và bắc thang trèo lên rồi chui qua ô thoáng vào trong phòng. Khi vào được bên trong, T lấy một chiếc dây thừng có sẵn trong phòng, buộc một đầu dây thừng vào chiếc củ mô tơ điện, đầu dây còn lại T cầm ở tay rồi trèo qua ô thoáng ban đầu ra ngoài. Khi trèo ra đến chiếc thang ở ngoài, T đứng ở trên thang kéo dây thừng buộc chiếc củ mô tô ra ngoài theo ô thoáng cửa. Sau đó T ôm chiếc củ mô tơ điện ra ngoài vành lao sát cổng nhà rồi trèo lên vành lao kéo chiếc củ mô tơ điện lên mang ra ngoài và giấu ở bụi cỏ ven đường. Sau đó T đi bộ về nhà lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu WONDER, màu sơn xanh, biển số 16H5-3649 của anh Lục Văn H, sinh năm 1998, trú tại thôn Na Hem, xã Hộ Đáp, huyện Lục Ngạn gửi tại nhà T rồi rủ P đi cùng (T không nói cho P biết đi đâu, làm gì) nhưng P vẫn đồng ý. T điều khiển xe mô tô chở P ra vị trí giấu chiếc củ mô tơ điện rồi T bê chiếc củ mô tơ điện lên xe, bảo P ngồi sau ôm. Sau đó T điều khiển xe chở P ngồi phía sau ôm chiếc củ mô tô điện đến nhà ông Đinh Thanh H, sinh năm 1967, trú tại thôn T, xã T, huyện L bán cho ông H được số tiền 450.000 đồng, số tiền này T và P sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Ngày 18/10/2021, sau khi phát hiện bị mất chiếc củ mô tơ điện, anh Hoàng Văn T có đơn trình báo Công an huyện Lục Ngạn. Cùng ngày Nguyễn Văn T đến Công an huyện Lục Ngạn đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.
Ngày 18/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi T trộm cắp chiếc củ mô tơ điện; tiến hành tạm giữ của ông Đinh Thanh H 01 (một) củ mô tơ điện 2,2Kw, màu xanh, nhãn hiệu Điện cơ Trần Hưng Đạo (là chiếc củ mô tơ ông H mua của T); tạm giữ của Nguyễn Văn T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WONDER, loại xe Wave, màu sơn xanh, biển số 16H5-3649 để phục vụ công tác điều tra.
Ngày 10/11/2021, Công an thị trấn Chũ tạm giữ 01 xe đạp mini, nhãn hiệu HPPY EVERYDAY IN NEW FRSHION, màu sơn tím, có giỏ xe từ ông Lê Mạnh C (là chiếc xe đạp ông C mua của T). Đến ngày 24/11/2021, Công an thị trấn Chũ đã trả lại chiếc xe đạp trên cho bà Trần Thị T là chủ sở hữu hợp pháp.
Ngày 19/4/2022, ông Lâm Văn N giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn 02 (hai) giò hoa lan phi điệp tím, đang nở hoa, thân cây lan có chiều dài trung bình 50cm để phục vụ công tác điều tra. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn trả lại cho chị Trần Thị L 02 giò hoa lan để chăm sóc, quản lý.
Ngày 21/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn khám xét nơi ở của Nguyễn Văn T tại TDP , thị trấn C, huyện L. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 19/4/2022, 05/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn đã tiến hành xác định hiện trường nơi Nguyễn Văn T trộm cắp chiếc xe đạp của chị T và hiện trường nơi T trộm cắp 02 giờ hoa lan Phi Điệp tại gia đình chị Trần Thị L.
Ngày 19/10/2021, 06/12/2021 và ngày 20/4/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn ra yêu cầu định giá tài sản đối với số tài sản mà T đã trộm cắp các ngày 17/10/2021, 09/11/2021 và ngày 18/4/2022. Tại bản kết luận định giá tài sản số 141/KL-HĐĐGTS ngày 21/10/2021; số 163/KL-HĐĐGTS ngày 07/12/2021 và số 48/KL-HĐĐGTS ngày 20/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lục Ngạn kết luận: 01 (một) củ mô tơ điện 2,2Kw, màu xanh, nhãn hiệu Điện cơ Trần Hưng Đạo giá trị ở thời điểm bị chiếm đoạt là 1.925.000 đồng; 01 (một) chiếc xe đạp mini, nhãn hiệu HPPY EVERYDAY IN NEW FRSHION giá trị ở thời điểm bị chiếm đoạt là 1.150.000 đồng; 01 giò hoa lan phi điệp tím, đang nở hoa, thân cây lan có chiều dài trung bình 50cm, đường kính than trung bình 0,75cm giá trị ở thời điểm bị chiếm đoạt là 2.000.000 đồng và 01 (một) giò lan phi điệp tím, đang nở hoa, thân cây lan có chiều dài trung bình 50cm, đường kính thân trung bình 0,75cm giá trị ở thời điểm bị chiếm đoạt là 1.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 6.875.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản kết luận điều tra và Bản cáo trạng đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đối với người bị hại, người liên quan vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và không có ý kiến, yêu cầu đề nghị gì. Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của những người này tại phiên tòa.
Tại bản Cáo trạng số: 61/CT-VKS-HS ngày 30 tháng 06 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (20/4/2022). Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
* Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo Nguyễn Văn T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Ngạn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như vậy là hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người bị hại, người liên quan: Một số người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ. Người bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan đều có lời khai trong hồ sơ, có đơn xin vắng mặt, không có ý kiến yêu cầu gì, không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.
Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt theo qui định của pháp luật.
Nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai bị cáo là người đã bị xử lý hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Trong các ngày 17/10/2021, 09/11/2021 và ngày 18/4/2022 tại địa bàn thị trấn Chũ, huyện Lục Ngạn bị cáo đã 03 (ba) lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị là 6.875.000 đồng. Trong đó: Ngày 17/10/2021 trộm cắp tài sản có giá trị 1.925.000 đồng; ngày 09/11/2021 trộm cắp tài sản có giá trị 1.150.000 đồng và ngày 18/4/2022 trộm cắp tài sản có tổng giá trị 3.800.000 đồng. Sau khi trộm cắp được số tài sản trên bị cáo đã bán lấy tiền tiêu sài cá nhân hết.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo, lời khai của người bị hại, người liên quan, biên bản xác định hiện trường, kết luận định giá tài sản, vật chứng của vụ án đã thu giữ đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người đã bị xử lý hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa chấp hành xong quyết định sau đó bị cáo tiếp tục có 03 lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử lý hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” chưa chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật nên Hội Đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như mức đề nghị của Viện kiểm sát để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với ông Lục Văn H: Là người gửi chiếc xe mô tô nhãn hiệu WONDER, loại xe Wave, màu sơn xanh, biển số 16H5-3649 tại nhà anh Nguyễn Văn T. Anh Nguyễn Văn T tự lấy chiếc xe đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên có giấy đăng ký xe mang tên Trương Văn V, sinh năm 1698, trú tại tổ dân phố C, phường L, quận L, thành phố H Phòng. Tiến hành làm việc với ông V, ông V xác định đã bán chiếc xe trên cho người không quen biết vào năm 2013. Anh H xác định mua xe mô tô trên của người đàn ông không quen biết tại tỉnh Quảng Ninh vào năm 2019, anh H không biết T sử xe mô tô vào mục đích phạm tội. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lục Ngạn không đặt ra xem xét xử lý đối với anh Lục Văn H là có căn cứ.
Đối với ông Lê Mạnh C: Là người mua chiếc xe đạp mini, nhãn hiệu HPPY EVERYDAY IN NEW FRSHION ngày 09/11/2021; ông Đinh Thanh H là người mua chiếc củ mô tơ điện ngày 17/10/2021; ông Lâm Văn N, bà Lý Thị T là người mua 02 (hai) giò hoa lan phi điệp tím ngày 18/4/2022 do Nguyễn Văn T bán và anh Trần Văn P là người được bị cáo T rủ đi bán chiếc củ mô tơ điện. Quá trình điều tra xác định khi anh P cùng T mang củ mô tơ đi bán và khi ông C, H, N và bà T mua số tài sản trên của T thì đều không không biết đó là tài sản do phạm tội mà có. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn không xem xét xử lý đối với ông Lê Mạnh C, Đinh Thanh H, Trần Văn P, Lâm Văn N và bà Lý Thị T về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lục Ngạn ra Quyết định xử lý trả lại 01 (một) củ mô tơ điện 2,2Kw, màu xanh, nhãn hiệu điện cơ Trần Hưng Đạo cho anh Hoàng Văn T là chủ sở hữu hợp pháp. Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WONDER, loại xe Wave, màu sơn xanh, biển số 16H5-3649 cho anh Lục Văn H là chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm cho theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136; Điều 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (20/4/2022).
Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Lục Ngạn; - Công an huyện Lục Ngạn; - TAND Tỉnh Bắc Giang; - THADS huyện lục ngạn; - Người tham gia tố tụng; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - UBND T.T C; - Sơ tư pháp; - Lưu hồ sơ. C¸c héi thÈm nh©n d©n | T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Hiếu ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Nguyễn Văn Hiếu |