vanban.org

Bản án 62/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tạm giam bị cáo: Đậu Quyền Quý, sinh ngày 15/10/1994 tại: xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn Đông Cảng, xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12;

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt..........(...................................) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08/6/2020). Về tội “Tàng trử trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Hải - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tạm giam bị cáo: Đậu Quyền Quý, sinh ngày 15/10/1994 tại: xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn Đông Cảng, xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2022/HS-ST
Ngày 29 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan H Phú và Ông Võ Xuân Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 56/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H; giới tính: Nam; sinh ngày 10 tháng 4 năm 1978 tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Khu phố 5, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 08/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông Nguyễn Hữu V (chết) và bà Phan Thị V, sinh năm 1950; vợ: Phan Thị Ph, sinh năm 1986 (đã ly hôn); con: có hai đứa; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: ngày 13/8/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 16 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 28/9/2022. Có mặt.

- Bị hại: Bà Phan Thị V, sinh năm 1950; nơi cư trú: Khu phố 5, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Trần Xuân H, sinh năm 1963; nơi cư trú: Khu phố 5, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Hoa N, sinh năm 1976; nơi cư trú: Khu phố 5, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 18/7/2022, Nguyễn Văn H đi làm về thì đến nhà bà Phan Thị V (mẹ ruột của H), sinh năm 1950, trú tại Khu phố 5, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình để nghỉ lại. Khi H đi vào phía sau lán làm tạm của bà V thì thấy điện chiếu sáng và nước sinh hoạt đã bị cắt, H bức xúc nên đã dùng chân, tay đập phá tài sản của bà V gồm: 01 quạt điện hiệu LK, 01 loa thùng nhãn hiệu Nakoya, 01 âm ly Belco, 01 tấm thủy tinh của cánh tủ hai buồng, 01 tủ chè bằng gỗ khảm trai và 01 hoành phi bằng gỗ có chạm hoa văn chữ hán.

- Kết luận giám định số 25/KL-HĐ ngày 24/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thị xã Ba Đồn kết luận:

+ 01 quạt điện hiệu LK, màu xanh đã qua sử dụng, bị bung phần thân quạt phần mô tơ và vỏ bằng kim loại bị biến dạng từ ngoài vào trong, từ trước ra sau, cánh quạt làm bằng kim loại bị biến dạng, có giá trị vào thời điểm bị hủy hoại là 1.400.000 đồng.

+ 01 loa thùng nhãn hiệu Nakoya đã qua sử dụng, màu đen, kích thước dài 40cm, rộng 34cm, cao 70cm, mặt trước loa bị vỡ, kích thước 65cm x 35cm, dây điện, nam châm bị vỡ hỏng, có giá trị vào thời điểm bị hủy hoại là 500.000 đồng.

+ 01 Âm ly nhãn hiệu Belco đã qua sử dụng, màu đen, kích thước 42cm x 30cm x 12cm, bị vỡ hỏng biến dạng, có giá trị vào thời điểm bị hủy hoại là 1.000.000 đồng.

+ 01 tấm thủy tinh của cánh tủ hai buồng đã qua sử dụng, bị vỡ kích thước 42cm x 120cm x 0,5cm, có giá trị vào thời điểm bị hủy hoại là 200.000 đồng.

+ 01 tủ chè bằng gỗ, khảm trai, kích thước 173cm x 46cm x 70cm bị bung hai cánh tủ, bể vỡ một tấm kính, các vách ngăn gỗ và gỗ chạm khắc bị gãy, có giá trị vào thời điểm bị hủy hoại là 5.000.000 đồng.

+ 01 tấm hoành phi bằng gỗ có chạm hoa văn chữ hán, kích thước 120cm x 60cm x 5cm bị gãy hai tai, bên phải và bên trái bị hư hỏng một phần, phải sửa chữa với chi phí 1.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn H hủy hoại và làm hư hỏng của bà Phan Thị V là 9.100.000 đồng. Trong đó, đối với tài sản bị cáo làm hư hỏng một phần của bà V là 01 tấm hoành phi bằng gỗ có chạm hoa văn chữ hán, chi phí sữa chữa 1.000.000 đồng. Hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” của Nguyễn Văn H không đủ tang số truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã chuyển Công an thị xã Ba Đồn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội bằng hình phạt tiền, với số tiền phạt 4.000.000 đồng, Nguyễn Văn H đã chấp hành nộp phạt. Do đó, hành vi “Hủy hoại tài sản” của bị cáo được xác định với tổng số tiền 8.100.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã thu giữ và trả lại cho bà Phan Thị V các tài sản:

+ 01 quạt điện hiệu LK, màu xánh đã qua sử dụng, bị bung phần thân quạt phần mô tơ và vỏ bằng kim loại bị biến dạng từ ngoài vào trong, từ trước ra sau, cánh quạt làm bằng kim loại bị biến dạng.

+ 01 loa thùng nhãn hiệu Nakoya đã qua sử dụng, màu đen, kích thước dài 40cm, rộng 34cm, cao 70cm, mặt trước loa bị vỡ, kích thước 65cm x 35cm, dây điện, nam châm bị vỡ hỏng.

+ 01 Âm ly nhãn hiệu Belco đã qua sử dụng, màu đen, kích thước 42cm x 30cm x 12cm, bị vỡ hỏng biến dạng.

+ 01 tấm thủy tinh của cánh tủ hai buồng đã qua sử dụng, bị vỡ kích thước 42cm x 120cm x 0,5cm.

+ 01 tủ chè bằng gỗ, khảm trai, kích thước 173cm x 46cm x 70cm bị bung hai cánh tủ, bể vỡ một tấm kính, các vách ngăn gỗ và gỗ chạm khắc bị gãy.

+ 01 tấm hoành phi bằng gỗ có chạm hoa văn chữ hán, kích thước 120cm x 60cm x 5cm bị gãy hai tai, bên phải và bên trái bị hư hỏng một phần.

- Về trách nhiệm dân sự: bị cáo và bị hại thỏa thuận mức bồi thường và bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại.

Tại phiên Tòa hôm nay vắng mặt không có lý do bị hại và những người làm chứng. Xét thấy, những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, giữa bị hại và bị cáo đã thỏa thuận bồi thường và bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên việc xét xử vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án; do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt.

Tại Cáo trạng số 56/CT - VKSBĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn: giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 178; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 18 đến 21 tháng Cải tạo không giam giữ.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: bà Nguyễn Thị V đã nhận các tài sản mà bị cáo H đã làm hư hỏng và yêu cầu bị cáo bồi thường, do vậy không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại và bị cáo đã thỏa thuận mức bồi thường và bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại nên không xem xét.

Tuyên bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Bị cáo Nguyễn Văn H nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhất trí với toàn bộ nội dung Cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố, thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như tại Cơ quan điều tra, tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, cải tạo, giáo dục tại địa phương.

- Bị hại, những người làm chứng vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, nội dung Cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: vào khoảng 21 giờ ngày 18/7/2022 Nguyễn Văn H đi làm về thì đến nhà bà Phan Thị V để nghỉ lại; khi H đi vào phía sau lán làm tạm của bà V thì thấy điện chiếu sáng và nước sinh hoạt đã bị cắt, H bức xúc nên đã dùng chân, tay đập phá tài sản của bà V gồm: 01 quạt điện hiệu LK, 01 loa thùng nhãn hiệu Nakoya, 01 âm ly Belco, 01 tấm thủy tinh của cánh tủ hai buồng, 01 tủ chè bằng gỗ khảm trai. Các tài sản mà bị cáo bị hủy hoại của bà Phan Thị V có tổng trị giá 8.100.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thấy: bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, xâm phạm trật tự công cộng, an ninh xã hội. Cần áp dụng mức hình phạt nghiêm mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo và đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện sữa chữa, khắc phục hậu quả; bị hại có Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 13/8/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 16 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự để xử phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương, phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục để tạo điều kiện cho bị cáo cơ hội sửa chữa, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời đảm bảo mục đích, tác dụng của hình phạt. Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm ”. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo có nghề nghiệp lái xe, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành án; cần chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa để miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý đồ vật, vật chứng: bà Nguyễn Thị V đã nhận lại các tài sản của mình đã bị bị cáo hủy hoại, yêu cầu bị cáo bồi thường; do vậy Hội đồng xét xử không xem xét về xử lý vật chứng mà xem xét giải quyết tại phần trách nhiệm dân sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại theo thỏa thuận, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung vào ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Về hành vi liên quan khác: Đối với hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” có giá trị 1.000.000 đồng của Nguyễn Văn H, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Ba Đồn đã chuyển Công an thị xã Ba Đồn xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội theo quy định với hình thức phạt tiền 4.000.000 đồng, Nguyễn Văn H đã nộp phạt .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 178; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự;

Điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án”.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Uỷ ban nhân dân phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng với gia đình để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.

Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

3. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng đối với bị cáo.

4. Về án phí: Xử buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 29/12/2022, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Bình;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Quảng Bình;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;

- VKSND thị xã Ba Đồn;

- Công an thị xã Ba Đồn;

(Đã ký)

- Chi cục THADS thị xã Ba Đồn;

- UBND phường Ba Đồn, tx. Ba Đồn;

- Bị cáo;

- Bị hại;

Phan Anh Đức

- Lưu hồ sơ vụ án; THA hình sự.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Hòa Phan Thanh Bảo

Phan Anh Đức

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Hòa Phan Thanh Bảo

Phan Anh Đức

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Xuân Hòa Phan Thanh Bảo

Phan Anh Đức TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỊ XÃ BA ĐỒN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH QUẢNG BÌNH

Ba Đồn, ngày....... tháng.......năm 2020

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi.........giờ.........phút, ngày........tháng.........năm 2020, Tại phòng nghị

án Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông...............................................................

- Các Hội thẩm nhân dân:........................................................................... .....................................................................................................................................

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số............../2020/HSST ngày ...../........./2020, đối với bị cáo Đậu Quyền Quý.

Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1. Về tội danh: bị cáo Đậu Quyền Quý phạm tội “Tàng trử trái phép chất ma tuý”.

Kết quả biểu quyết:..........................................................................................

2. Về điều luật áp dụng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Kết quả biểu quyết:........................................................................................

3.Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Đậu Quyền Quý....................(...................................) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/6/2020.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Đậu Quyền Quý với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/9/2020) để đảm bảo thi hành án, theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử.

Kết quả biểu quyết:........................................................................................

4. Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đậu Quyền Quý.

Kết quả biểu quyết:........................................................................................

5. Về các vấn đề khác:

- Về xử lý vật chứng: Xử tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Fasol và 01 phong bì thư của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Bình, số: 929/GĐ - PC09, bên ngoài ghi “Mẫu ký hiệu A”, bên trong chứa 0,248g (Không phẩy hai trăm bốn mươi tám gam) chất ma túy Heroine sau giám định, kèm theo vỏ bao gói, đã được niêm phong bằng chữ ký của những người tham gia niêm phong và dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình. (Vật chứng có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Ba Đồn và Chi cục Thi hành án thị xã Ba Đồn vào ngày 16/9/2020.

- Về án phí: Xử buộc bị cáo Đậu Quyền Quý pH nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Kết quả biểu quyết:.......................................................................................

Việc nghị án kết thúc vào hồi..........giờ.............phút cùng ngày.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN

THẨM PHÁN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THỊ XÃ BA ĐỒN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH QUẢNG BÌNH Số...../2020/HSST-QDTG

Ba Đồn, ngày....... tháng.......năm 2020

QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Anh Đức

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông:...................................................................................................................

Bà:....................................................................................................................

Căn cứ vào các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Biên bản nghị án ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;

Xét thấy: Cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tạm giam bị cáo: Đậu Quyền Quý, sinh ngày 15/10/1994 tại: xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn Đông Cảng, xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 7/12;

Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt..........(...................................) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08/6/2020). Về tội “Tàng trử trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Thời hạn tạm giam là 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/9/2020.

2. Công an thị xã Ba Đồn có trách nhiệm thi hành quyết định này.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ