- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cẩm T về việc yêu cầu ly hôn với anh Dương Văn C. Chị T được ly hôn với anh C.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2022 V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Nữ Thu Hân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phú Hữu.
2. Ông Nguyễn Viết Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 147/2022/TLST-HNGĐ ngày 02/8/2022, về việc “tranh chấp về hôn nhân và gia đình – ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/8/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 255/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm
Địa chỉ: Số m, ấp h, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Anh Dương Văn C, sinh năm
Địa chỉ: Số n, ấp b, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Cẩm T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp và được cấp giấy Chứng nhận kết hôn số 38 ngày 13/11/2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau này phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C không quan tâm, chăm sóc vợ con, có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, vợ chồng không còn tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng sống xa nhau từ tháng 02/2022, trong thời gian sống xa nhau, mặc dù vợ chồng đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh C.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Dương Thị Kiều Q, sinh ngày 12/3/2017. Hiện nay cháu Q đang sống với chị T, sau khi ly hôn chị Quyên yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa, chị T yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với mức 01 tháng lương cơ sở, thời gian cấp dưỡng từ tháng 9/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Trường hợp Tòa án giải quyết anh C là người trực tiếp nuôi con chung thì chị T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung hàng với mức 01 tháng lương cơ sở, thời gian cấp dưỡng từ tháng 9/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Dương Văn C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh C thống nhất với chị T về thời gian kết hôn, thời gian xa nhau và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Tuy nhiên, anh C muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không đồng ý ly hôn với chị T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Dương Thị Kiều Q, sinh ngày 12/3/2017. Hiện nay cháu Q đang sống với chị T, trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh C yêu cầu được nuôi con chung và đồng ý với sự tự nguyện cấp dưỡng của chị T. Trường hợp Tòa án giao con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng thì anh C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung hàng với mức 01 tháng lương cơ sở, thời gian cấp dưỡng từ tháng 9/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện chị T có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh C và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con; bị đơn có địa chỉ tại xã M, thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ hôn nhân: Chị T yêu cầu được ly hôn với anh C do mẫu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Anh C thừa nhận thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn được nhưng anh C không đồng ý ly hôn với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T và anh C có đủ điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 13/11/2017 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị T và anh C có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và anh C không chung thủy với chị T, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống xa nhau thời gian dài nhưng vẫn không hàn gắn tình cảm được, mỗi người có cuộc sống riêng, vợ chồng không còn tình cảm thương yêu nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh C là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 19 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét con chung: Chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Dương Văn C có 01 con chung tên Dương Thị Kiều Q, sinh ngày 13/11/2017, hiện con chung đang sống chung với chị T. Sau khi ly hôn, chị T và anh C đều yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi sinh ra đến nay, cháu Q sống chung với cha mẹ và từ khi vợ chồng chị T, anh C phát sinh mâu thuẫn, sống xa nhau thì cháu Q sống chung với chị T, cuộc sống đã dần ổn định. Hơn nữa, cháu Q còn rất nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn. Do đó, yêu cầu của chị T về việc chị T được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên tòa, anh C xác định trường hợp Tòa án giao con chung cho chị T nuôi dưỡng thì anh C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng với mức cấp dưỡng là 01 tháng lương cơ sở, thời gian cấp dưỡng từ tháng 9/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy, chị T là người trực tiếp nuôi con, anh C không trực tiếp nuôi con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con mà anh C tự nguyện là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 82, 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định tại Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân gia đình.
Xét tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh C thống nhất xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu án phí về ly hôn, anh C phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 8, 9, 19, 51, 56, 81, 82, 83, 110, 116 và 117 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về Quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cẩm T về việc yêu cầu ly hôn với anh Dương Văn C. Chị T được ly hôn với anh C.
2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cẩm T về việc chị T là người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, chị T được tiếp tục nuôi con chung tên Dương Thị Kiều Q, sinh ngày 13/11/2017, hiện con chung đang sống với chị T.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Cẩm T, anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng, với mức cấp dưỡng là 01 tháng lương cơ sở, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9/2022 đến khi con chung đủ 18 tuổi.
4. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
5. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
6. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011378 ngày 01/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Như vậy, chị T đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Dương Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng là 300.000 đồng.
7. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
8. Quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKS ND TPCL; - TAND tỉnh ĐT - Đương sự; - Ủy ban nhân dân xã Mỹ Ngãi, TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (khi có hiệu lực pháp luật; GCNKH số 38/2017, ngày 13/11/2017); - Lưu hồ sơ vụ án. . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Nữ Thu Hân |