- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phan Tuyết H ly hôn với anh Đặng Trường P"
- Tòa quyết gì? 1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Tuyết H đối với anh Đặng Trường P. Chị Phan Tuyết H được ly hôn với anh Đặng Trường P.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2022/HNGĐ-ST Ngày: 05-8-2022 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thả;
Bà Thị Amina.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phú, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Giàu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 51/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2022 về Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phan Tuyết H, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ 6, ấp X, xã P, huyện C, tỉnh N (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Đặng Trường P, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ 1, ấp C, xã P, huyện C, tỉnh N (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 21/02/2022 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phan Tuyết H trình bày:
-Về hôn nhân: Chị và anh P chung sống với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn tại xã Tân P, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. Trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau hơn 02 năm và tự nguyện kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng đi làm ở Long An 02 năm thì về làm Công nhân ở huyện Trảng Bàng. Trong quá trình này vợ chồng thuê nhà ở trọ. Vợ chồng chung sống hạnh Phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do anh P không tôn trọng chị, xem trọng bạn bè hơn vợ con, thường đi chơi với bạn bè mỗi lần 02-03 ngày mới về nhà, chị góp ý thì anh P chửi mắng nên xảy ra gây gỗ, cải vã; anh P tự bỏ đi khỏi phòng trọ nên chị chuyển phòng trọ và ly thân hơn 01 tháng nay không đoàn tụ được. Việc vợ chồng chị mâu thuẫn thì gia đình 02 bên đều biết, mẹ chị có khuyên can, gia đình anh P không có ý kiến gì. Nay chị thấy vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên yêu cầu ly hôn.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Đặng Minh Q, sinh ngày 06/01/2019, đang sống với bà Nội. Nay chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị làm công nhân may mặc tại Công ty Colltex thuộc Khu công nghiệp Trảng Bàng, thu nhập hàng tháng tính luôn tăng ca khoảng 9.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Chị nộp bản sao kê Ngân hàng và Tờ phiếu lương tháng 5/2022 để chứng minh việc này. Chị cam kết sẽ nuôi con tốt nhất. Hiện nay chị vẫn về thăm con đều đặn vào mỗi cuối tuần.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đặng Trường P vắng mặt nên không có lời trình bày.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để xét xử theo hướng:
+ Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Tuyết H đối với anh Đặng Trường P.
+ Về con chung: Giao con chung cho chị Phan Tuyết H nuôi dưỡng; ghi nhận chị Phan Tuyết H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Ghi nhận chị Phan Tuyết H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Chị Phan Tuyết H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hôn nhân:
[1.1] Chị H khai nhận chị và anh P chung sống với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn ngày 23/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã Tân P, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là phù hợp với Giấy chứng nhận kết hôn chị cung cấp.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị H khai nhận anh chị chung sống hạnh Pc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do anh P không tôn trọng chị, xem trọng bạn bè hơn vợ con, chị góp ý thì anh P chửi mắng nên xảy ra gây gỗ, cải vã; anh P tự bỏ đi khỏi phòng trọ nên chị chuyển phòng trọ và ly thân không đoàn tụ được. Anh P đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa làm việc nên không có lời trình bày. Qua kết quả xác minh tại địa phương thể hiện anh P đồng ý ly hôn nhưng không đồng ý giao con cho chị H nuôi dưỡng nên anh không đến Tòa làm việc. Do đó, đã có đủ cơ sở xác định anh chị không xây dựng được hạnh Pc gia đình, tình trạng hôn nhân giữa anh chị đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Đặng Minh Q, sinh ngày 06/01/2019, đang sống với mẹ anh P. Nay chị H yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, chị H có nguyện vọng được nuôi con, việc làm và thu nhập ổn định. Anh P không đến Tòa làm việc, không có lời khai, không chứng minh được việc có việc làm và thu nhập ổn định, mẹ anh P là người trực tiếp nuôi con anh chứ không phải anh nuôi. Qua đó cho thấy chị H có điều kiện nuôi con tốt hơn anh P. Cần giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
[4] Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Tuyết H đối với anh Đặng Trường P. Chị Phan Tuyết H được ly hôn với anh Đặng Trường P.
2- Về con chung: Giao cho chị Phan Tuyết H được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung tên Đặng Minh Q, sinh ngày 06/01/2019; ghi nhận chị Phan Tuyết H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Anh Đặng Trường P có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Tuyết H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
4- Về án phí: Chị Phan Tuyết H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007102 ngày 23/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; chị Phan Tuyết H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử Phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Đương sự; -Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; -UBND xã; -Lưu hồ sơ; -Lưu tập án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Chung |