vanban.org

Bản án 62/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Xuân N ly hôn ông Lâm Hữu K.

[2] Về con chung: Giao con chung là cháu Lâm Khả A, sinh ngày 10/12/2016 và Lâm Khả M, sinh ngày 20/12/2018 hiện đang sống với bà Nguyễn Xuân N cho bà Nguyễn Xuân N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luật và ý kiến của Phòng Lao đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Xuân N - Lâm Hữu K"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Xuân N ly hôn ông Lâm Hữu K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16-8-2022.
“V/v tranh chấp Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Minh Hiếu;

2. Bà Lê Thị Diễm Huyền.

- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Dương Thanh Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 197/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 133/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Xuân N, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1994.

Đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

Chỗ ở hiện nay: ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

2. Bị đơn: ông Lâm Hữu K, sinh năm 1989.

Địa chỉ: số 153/1, ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Nguyễn Xuân N trình bày:

Bà Nguyễn Xuân N và ông Lâm Hữu K chung sống với nhau được cha, mẹ hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán vào năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Số 84/2015, Quyển số 01/2015, ngày 27/8/2015. Quá trình chung sống ông, bà có 02 người con chung tên Lâm Khả A, sinh ngày 10/12/2016 và Lâm Khả M, sinh ngày 20/12/2018 hiện đang sống với bà N. Do vợ chồng không cùng quan điểm sống nên cuộc sống hôn nhân không thể tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông, bà đã ly thân nhau từ giữa năm 2019 đến nay.

Nay bà N yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng giải quyết:

- Về hôn nhân: Yêu cầu xin ly hôn với ông Lâm Hữu K, sinh năm 1989.

- Về con chung: Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là cháu Lâm Khả A, sinh ngày 10/12/2016 và Lâm Khả M, sinh ngày 20/12/2018 hiện đang sống với bà N. Bà không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lâm Hữu K: Trong quá trình giải quyết vụ án ông không có ý kiến gì và cũng không yêu cầu phản tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và tư cách của người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy mối quan hệ vợ chồng giữa bà N và ông K đã mâu thuẫn trầm trọng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, cho bà N được ly hôn với ông K.

Về con chung: Do con chung là cháu Lâm Khả A, sinh ngày 10/12/2016 và Lâm Khả M, sinh ngày 20/12/2018 hiện đang sống với bà N từ khi vợ chồng ly thân vào giữa năm 2019 đến nay, ông K không có yêu cầu nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, giao con chung cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với ý kiến của Phòng Lao động Thương binh xã hội.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa, do bà N không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: bà N tự khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Tại phiên tòa bị đơn ông Lâm Hữu K vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông K, trong đó có Thông báo số 545/TB-TA, ngày 11/7/2022 về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, đã hết thời hạn ấn định trong thông báo nhưng ông K không có ý kiến gì nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K theo qui định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà N và ông K có đăng ký kết hôn vào ngày 27/8/2015, do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Bà N và ông K đã ly thân từ giữa năm 2019 đến nay. Theo biên bản xác minh của Tòa án ngày 30/6/2022: thì nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp là do trước đây vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẩn nên đã ly thân nhau từ giữa năm 2019 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án ông K không có ý kiến gì về hôn nhân và con chung. Xét thấy, mối quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ. Bỡi lẽ, theo lời trình bày của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở để xác định cuộc sống vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu ly hôn bị đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung:

Theo lời khai của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, giữa nguyên đơn và bị đơn có 02 (hai) người con chung tên Lâm Khả A, sinh ngày 10/12/2016 và Lâm Khả M, sinh ngày 20/12/2018 hiện đang sống với nguyên đơn. Tại phiên Tòa, nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục được nuôi con chung, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng. Riêng bị đơn không có ý kiến gì về con chung.

Xét thấy, con chung đã được nguyên đơn nuôi dưỡng ổn định từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay, đồng thời để tránh những xáo trộn trong đời sống, tâm lý, gây ra những ảnh hưởng không tốt đến việc phát triển bình thường của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của nguyên đơn, giao con chung là cháu Lâm Khả A, sinh ngày 10/12/2016 và Lâm Khả M, sinh ngày 20/12/2018 hiện đang sống với nguyên đơn cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Việc giao con chung cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng cũng phù hợp với ý kiến của Phòng Lao động Thương binh xã hội huyện Kế Sách tại công văn số: 251/P.LĐTBXH ngày 12/7/2022. Do nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.

Về nợ chung: Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Xuân N ly hôn ông Lâm Hữu K.

[2] Về con chung: Giao con chung là cháu Lâm Khả A, sinh ngày 10/12/2016 và Lâm Khả M, sinh ngày 20/12/2018 hiện đang sống với bà Nguyễn Xuân N cho bà Nguyễn Xuân N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luật và ý kiến của Phòng Lao động Thương binh xã hội huyện Kế Sách. Ông Lâm Hữu K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Ông Lâm Hữu K không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Xuân N không yêu cầu.

[3] Về tài sản chung: Do bà Nguyễn Xuân N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.

[4] Về nợ chung: Do bà Nguyễn Xuân N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Xuân N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng bà Nguyễn Xuân N đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003889 ngày 14/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách không nộp thêm. Ông Lâm Hữu K không chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho nguyên đơn đựơc quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ