- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Trần Thị Huyền T đối với anh Lê Xuân Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| -------------- Bản án số:62/2022/HNGĐ-ST Ngày: 27/01/2022 V/v: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Thắng
Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Đông
2/ Bà Hoàng Thị An
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hải Yến - Cán bộ Toà án nhân dân Huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Đông Anh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Dung – Kiểm sát viên
Ngày 27/01/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Đông Anh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 539/2021/TLST – HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2021/QĐXX ngày 23/12/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2021/QĐ-ST ngày 13/01/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị Huyền T, sinh ngày 1993
Bị đơn: Anh Lê Xuân Đ, sinh năm 1988
Đều có HKTT: Đội 12, thôn N, xã N, huyện Đ, Hà Nội
Có mặt: Chị T
Vắng mặt: Anh Đ
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 18/11/2021 và các lời khai bổ sung, nguyên đơn chị Trần Thị Huyền T là nguyên đơn trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Xuân Đ, anh Đ xây dựng gia đình với nhau và có đăng ký kết hôn ngày 30/08/2012 tại Ủy ban nhân dân xã N, Đông Anh, Hà Nội trên cơ sở tự nguyện. Sau khi cưới, chị về nhà anh Đ chung sống từ năm 2012 đến năm 2019 thì vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn, chị đã mang con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống ổn định từ đó đến nay. Quá trình chị và anh Đ chung sống xẩy ra nhiều mâu thuẫn. Đặc biệt căng thẳng là từ khoảng năm 2019 đến nay, nguyên nhân chính là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống và do anh Đ thường xuyên đi làm ăn xa. Gia đình nhiều lần cũng đã khuyên bảo và hòa giải nhưng không được. Nay quan điểm của chị xác định tình cảm không còn, chị xin ly hôn anh Đ.
- Về con chung: Anh Đ, chị T có 02 con chung là Lê Ngọc D, sinh ngày 12/05/2016 và Lê Minh V, sinh ngày 25/04/2019. Hiện nay chị đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản, nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho anh Lê Xuân Đ nhưng anh Đ không đến Tòa án làm việc, không cung cấp ý kiến của mình về việc chị T xin ly hôn. Do đó, Tòa án không ghi được ý kiến của anh Đ và giải quyết theo thủ tục chung.
Tại phiên toà:
* Chị T vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh Đ; về con chung: Anh xác định vợ chồng có 02 con chung. Ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung: Chị xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự. Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T; Về cong chung: Anh Đ, chị T có 02 con chung là Lê Ngọc D, sinh ngày 12/05/2016 và Lê Minh V, sinh ngày 25/04/2019. Hiện nay chị đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu Tòa án gaiir quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu của chị T là có căn cứ đề nghị HĐXX chấp nhận. Về tài sản, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu án phí LHST.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật:
Chị T có đăng ký kết hôn với anh Đ ngày 12/3/2011 tại UBND xã N, huyện Đ, Hà Nội. Chị T xin ly hôn anh Đ. Anh Đ có nơi cư trú tại Thôn N, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Do vậy, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, anh Đ vắng mặt toàn bộ trong quá trình hòa giải và xét xử vụ án. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh Đ là phù hợp với quy định của khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân : Chị Trần Thị Huyền T kết hôn với anh Lê Xuân Đ kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện Đ, Hà Nội là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết cũng như xác minh tại địa phương, gia đình anh Đ và tại phiên tòa, chị T kiên quyết xin ly hôn, còn anh Đ không hợp tác không đến Tòa án trình bày ý kiến và không có bất kỳ một biện pháp nào để cải thiện quan hệ vợ chồng. Anh chị đã ly thân được một thời gian dài mà không ai quan tâm đến ai. Do vậy, nếu cứ kéo dài cuộc sống hôn nhân như hiện nay thì sẽ không đạt được mục đích, Hội đồng xét xử cần căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp..
Về con chung: Vợ chồng anh Đ, chị T có 02 con chung Lê Ngọc D, sinh ngày 12/05/2016 và Lê Minh V, sinh ngày 25/4/2019. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung.
Xét, căn cứ vào thực tế hiện nay các con chung thực tế vẫn ăn ở với chị T, do chị T chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Đ không cung cấp các tài liệu về việc hiện anh làm gì và điều kiện nuôi con như thế nào. Do đó, giao Các con chung cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết..
Về tài sản, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết
Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm 300.000đ chị T phải chịu để sung công quỹ nhà nước;
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 81, 84 Luật Hôn nhân gia đình; - Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Trần Thị Huyền T đối với anh Lê Xuân Đ. Chị Trần Thị Huyền T được ly hôn anh Lê Xuân Đ.
2. Về con chung: Vợ chồng anh Đ, chị T có có 02 con chung Lê Ngọc D, sinh ngày 12/05/2016 và Lê Minh V, sinh ngày 25/4/2019. Giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung cho đến khi các con thành niên hoặc có sự thay đổi khác. Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét giải quyết..
3. Về tài sản, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết
4. Về án phí LHST: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị T phải chịu cả nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số AA/2020/0045752 ngày 18/11/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh. Chị T đã nộp đủ án phí.
5. Án xử công khai, sơ thẩm, chị T có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Anh Đ có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKS Đông Anh - THA Đông Anh. - TAND thành phố Hà Nội - UBND xã N - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Thịnh Quang Thắng |