- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thành Nh ly hôn với Lường Thị T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành Nh, cho ly hôn giữa anh Nguyễn Thành Nh và chị Lường Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 62/2022/HNGĐ- ST Ngày: 29/9/2022 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Phương và ông Cà Văn Danh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hoà, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên;
Ngày 29 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 202/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2022 về việc: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thành Nh;
Sinh năm: 1985;
Địa chỉ: Thôn Th, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt).
2. Bị đơn: Chị Lường Thị L;
Sinh năm: 1986;
Địa chỉ: Bản C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 01/8/2022 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn anh Nguyễn Thành Nh trình bày:
Về hôn nhân: Anh Nh và Chị Lường Thị L đăng ký kết hôn từ ngày 13/7/2017 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn. Đến đầu năm 2018 thì không ở với nhau nữa, không còn quan tâm đi lại với nhau. Tình cảm không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc gì. Khi ở với nhau thì thường bất đồng quan điểm hay cãi nhau. Anh Nh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị L;
Về con chung: không có.
Về quan hệ tài sản: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết gì.
Anh Nh có đơn xin xét xử vắng mặt do bận công việc.
Tại bản tự khai ngày 13/9/2022 chị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị L có đăng ký kết hôn với anh Nh tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình ngày 13/7/2017 trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn. Đến đầu năm 2018 thì không còn ở với nhau nữa, không còn quan tâm đi lại với nhau. Tình cảm không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc gì. Khi ở với nhau thì thường bất đồng quan điểm hay cãi nhau. Nay anh Nh xin ly hôn chị cũng nhất trí ly hôn.
Về con chung: Hai anh chị không có con chung nào.
Về quan hệ tài sản: Không có và không yêu cầu toà án giải quyết gì.
Chị L có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên xét xử vụ án do bận công việc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về thủ tục tố tụng:
- Về thủ tục thụ lý yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn: Ngày 02/8/2022 anh Nguyễn Thành Nh nộp đơn khởi kiện đề ngày 01/8/2022 về việc Ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đối với chị Lường Thị L; Địa chỉ: Bản C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Anh Nh có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo qui định tại khoản 1 điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngày 02/8/2022 anh Nh đã nộp tạm ứng án phí, cùng ngày Tòa án đã thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện của anh Nh theo khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình và Điều 195 BLTTDS.
- Về thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu Ly hôn giữa anh Nguyễn Thành Nh và chị Lường Thị L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
- Anh Nguyễn Thành Nh và chị Lường Thị L đều có đơn đề nghị tòa xét xử vắng mặt nên hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt anh Nh, chị L.
Về yêu cầu khởi kiện:
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Thành Nh và chị Lường Thị L kết hôn trên cơ sở tự nguyện không ai bị mất năng lực hành vi dân sự, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình ngày 13/7/2017, các bên kết hôn khi đã đủ điều kiện kết hôn. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh Nh, chị L là hợp pháp. Anh Nh, chị L đều trình bày quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được một thời gian ngắn đến đầu năm 2018 thì không ở với nhau nữa, không còn quan tâm đi lại với nhau. Tình cảm của hai anh chị không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc gì. Khi ở với nhau thì thường bất đồng quan điểm hay cãi nhau. Như vậy Hội đồng xét xử thấy rằng nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là do tính tình không hợp, quan điểm bất đồng, có đủ cơ sở khẳng định việc hai vợ chồng không còn hạnh phúc, có mâu thuẫn là đúng. Xét tình trạng thực tế giữa hai vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định cả hai anh chị đều vi phạm nghĩa vụ của người chồng và người vợ, dẫn đến không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình với nhau. Do đó, đã làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh Nh xin ly hôn chị L cũng nhất trí ly hôn. Toà án đã triệu tập đến để hoà giải chị L không có mặt để giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của anh Nh, giải quyết cho ly hôn giữa anh Nh với chị L.
Về con chung: Anh Nh và chị L đều khai không có con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về tài sản và nợ: Các đương sự khai không có và không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về Án phí: Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc anh Nh phải chịu 300.000 đ tiền án phí dân sự sơ thẩm của vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Thành Nh, cho ly hôn giữa anh Nguyễn Thành Nh và chị Lường Thị L.
2.Về con chung: Không có.
3.Về tài sản và nợ: Không đề cập giải quyết.
4. Về án phí: Anh Nguyễn Thành Nh phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí DSST anh Nh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo biên lai thu tiền số 0005021 ngày 02/8/2022, Anh Nh đã nộp đủ án phí DSST.
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND HĐB; - UBND xã T, huyện K, Tỉnh TB; - Chi cục THADS HĐB; - Tòa án tỉnh ĐB; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẦM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Ngọc |