- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "thay đổi nuôi con"
- Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng: Khoản 3 Điều 81; khoản 2 Điều 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ TỈNH HƢNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62 /2022/HNGĐ-ST Ngày: 10/6/2022 “V/v yêu cầu thay đổi người nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH HƢNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Xuân Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Ngọc Tuấn và ông Nguyễn Văn Đại
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Cán bộ Tòa án huyện Yên Mỹ.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thơ.
Trong ngày 10 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 24/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 “V/v yêu cầu thay đổi người nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/ 2022/ QĐST- HNGĐ ngày 25/452022 giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh, sinh năm 1998 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1996 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Phạm Nguyễn Hiểu M, sinh ngày 28/10/2019.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện hợp pháp cho cháu M: Anh Phạm Văn T và chị Nguyễn Thị Hồng Nh.
Người bảo vệ quyền & lợi ích hợp pháp cho cháu Phạm Nguyễn Hiểu M: Bà Đỗ Minh Á - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hưng Yên (vắng mặt)
Người làm chứng:
Bà Đặng Thị Th, sinh năm 1952 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
Chị Nguyễn Lan A, sinh năm 2004 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn M, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2022, bản tự khai cùng các lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng Nh trình bày:
Chị kết hôn với anh Phạm Văn T năm 2018, sinh được một con chung là cháu Phạm Nguyễn Hiểu M, sinh ngày 28/10/2019. Quá trình chung sống do mâu thuẫn nên năm 2020 hai anh chị đã ly hôn, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 06/ 2021/ QĐST – HNGĐ ngày 13/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, hai anh chị thỏa thuận anh T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Phạm Nguyễn Hiểu M. Chị có quyền đến thăm, gặp gỡ và chăm sóc con chung, anh T và gia đình không ai được ngăn cấm, cản trở. Sau ly hôn chị thường xuyên đến thăm nom cháu M, tuy nhiên nhiều lần anh T và gia đình đã ngăn cấm, cản trở, viện nhiều lý do không cho chị gặp cháu M, nên hai bên đã xảy ra mâu thuẫn. Lần gần nhất chị đến thăm cháu M thì mẹ anh T ngăn cấm, anh T đánh chị, không cho chị gặp, đón cháu M về chơi. Khi chị gửi sữa và các đồ cho con thì gia đình anh T mang trả lại, không nhận. Để bảo đảm quyền làm mẹ, quyền chăm sóc con và cuộc sống vật chất, tinh thần của cháu M, chị đề nghị T án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu M cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị cam kết nếu được trực tiếp nuôi cháu M, chị không ngăn cấm, cản trở anh T trong việc đến thăm và chăm sóc cháu M và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Bị đơn anh Phạm Văn T trình bày: Anh công nhận về thời gian kết hôn, cuộc sống chung và thời gian ly hôn như chị Nhung trình bày là đúng. Tại Quyết định số 06 ngày 13/01/2021 chị Nh đã nhất trí giao cháu Minh cho anh chăm sóc nuôi dưỡng. Khi chị Nh đến thăm và đón cháu M đã có hành xử thiếu tôn trọng anh và gia đình, có lần do không kìm chế được nên anh có đánh chị Nh, không cho chị Nh đón cháu M về chơi, sau đó chị Nh có gửi sữa và đồ dùng cho con, nhưng gia đình anh không biết trong sữa có độc hại gì không nên không nhận và cho người mang trả lại chị Nh. Quan điểm của anh không chấp nhận yêu cầu của chị Nh, anh đề nghị giữ nguyên việc nuôi con chung như Quyết định số 06/2021/ QĐST - HNGĐ ngày 13/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ.
Kết quả xác minh thu thập chứng cứ thể hiện: Tại Quyết định Công nhận sự thỏa thuận và thuận tình ly hôn của các đương sự số 06/2021/QĐST - HNGĐ ngày 13/01/2021 của Tòa án huyện Yên Mỹ, thì chị Nguyễn Thị Hồng Nh và anh Phạm Văn T có 01 con chung là cháu Phạm Nguyễn Hiểu M, sinh ngày 28/10/2019. Khi ly hôn anh chị thỏa thuận anh T trực tiếp, chăm sóc, trông nom, nuôi dưỡng cháu M cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Trong khi thăm và đón con giữa chị Nh với anh T và gia đình anh T có xảy ra mâu thuẫn, anh T có đánh chị Nh. Hiện anh T đã mang một người phụ nữ khác về nhà sinh sống như vợ chồng, nhưng chưa đăng ký kết hôn. Quan điểm địa phương cháu M còn nhỏ chưa đủ 03 tuổi, chị Nhung có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, đảm bảo quyền của người phụ nữ và trẻ em đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị Nh.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng Nh giữ nguyên quan điểm xin được nuôi cháu Phạm Nguyễn Hiểu M và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung, chị có nơi sinh sống riêng, có công việc ổn định, gần nhà, thu nhập 10.000.000đồng/ tháng, đủ chi phí cho hai mẹ con. Lý do chị không chu cấp cho anh Toàn mỗi tháng 1.000.000đồng để nuôi cháu M là vì hàng tháng chị đều mua vật chất cho cháu, mỗi khi được đón cháu M về chơi thì chị không lấy bất cứ đồ gì của cháu ở nhà anh T về, mà chị mua sắm cho cháu M toàn bộ, chị muốn số tiền chị bỏ ra cho cháu M thì cháu M phải là người được hưởng thụ thật sự. Anh T đang sinh sống với một người phụ nữ như vợ chồng, đã có thai sắp đẻ. Chị sinh sống một mình sẽ chăm sóc cháu M được tốt hơn anh T.
Bị đơn anh T trình bày: Sau khi ly hôn chị Nh, anh chưa lấy vợ mới, hiện anh có mang một người phụ nữ khác về nhà sinh sống như vợ chồng, nhưng anh vẫn dành nhiều tình cảm cho con, anh làm nghề lái xe thu nhập một tháng 25.000.000đồng, có nhiều thời gian chăm sóc cháu M. Anh không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của chị Nhung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán lập hồ sơ vụ án đúng trình tự thủ tục. Việc lấy lời khai của đương sự và xác minh tại địa phương đảm bảo tính khách quan, hợp pháp. Thời hạn chuẩn bị xét xử, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu và việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng đảm bảo đúng theo Điều 48; 179; 195; 196; 203; 220 Bộ Luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo các Điều 70; 71, Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo điều 70; 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử (HĐXX) và Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân dân sự, nên Viện kiểm sát không có kiến nghị gì.
Về nội dung: Khi ly hôn anh Toàn chị Nh thỏa thuận anh T nuôi con, nhưng trong quá trình thăm và đón con đã phát sinh mâu thuẫn giữa chị Nh với anh T và gia đình, dẫn đến việc chị Nh không được thăm, đón chăm sóc con chung, anh T từ chối sự quan tâm của chị Nh với cháu M. Nay chị Nh có công việc thu nhập ổn định, bảo đảm cuộc sống bình thường của hai mẹ con, hơn nữa cháu M dưới 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc của người mẹ hơn, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên nhận định:
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nh: Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 06/2021/ QĐST - HNGĐ ngày 13/01/2021 anh Toàn và chị Nh thỏa thuận anh T nuôi cháu Phạm Nguyễn Hiểu M. Quá trình chị Nhung đến thăm, đón con hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến anh T và gia đình đã ngăn cấm, cản trở và đánh chị Nh khi chị đến thăm, đón cháu M. Điều này thể hiện anh T và gia đình đã không thực hiện đúng quyết định công nhận thỏa thuận của Tòa án, ngăn cản tình cảm mẹ con giữa chị Nh và cháu M.
Hiện chị Nh sinh sống một mình, có nơi ở riêng, có việc làm, nguồn thu nhập ổn định, đủ điều kiện về vật chất để nuôi dưỡng chăm sóc cháu M, cháu M hiện dưới 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc của người mẹ hơn. Chị Nh cam kết nếu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu M, chị không ngăn cấm, cản trở anh T đến thăm, đón, chăm sóc cháu M. Anh T hiện đang sinh sống với người phụ nữ khác như vợ chồng, nên việc dành thời gian, tình cảm để quan tâm chăm sóc cháu M không bằng chị Nh. Để đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ và đảm bảo sự phát bình thường của cháu M, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Nh, giao cho chị Nh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nh không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về án phí: Chị Nh phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/ Áp dụng: Khoản 3 Điều 81; khoản 2 Điều 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
2/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng Nh. Thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tại Quyết định số 06/2021/ QĐST - HNGĐ ngày 13/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Mỹ. Giao cho chị Nguyễn Thị Hồng Nh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Phạm Nguyễn Hiểu M, sinh ngày 28/10/2019 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nh không yêu cầu anh Toàn cấp dưỡng nuôi con chung.
3/ Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng Nh phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, đối trừ 300.000đồng chị Nh đã nộp tại biên lai ngày 15/03/2022 ngày của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Yên Mỹ, chị Nhung đã nộp đủ án phí.
4/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên; - VKSND huyện Yên Mỹ; - Cục THADS huyện Yên Mỹ; - UBND xã Đ, huyện Y; - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Xuân Quỳnh |