- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa Nguyễn Thị Ánh N và ông Nguyễn Văn P"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Nguyễn Văn P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2022/HNGĐ-ST Ngày 29-6-2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lâm Ngọc Sơn.
Ông Vũ Minh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 29 tháng 6 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 163/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1997 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh C.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1993 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện P, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 5 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh N trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn P tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013, không có đăng ký kết hôn vì khi chung sống bà chưa đủ tuổi kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cự cãi do ông P không tin bà và thường xuyên đánh bà. Bà xác định vợ chồng không thể tiếp tục chung sống nên bà yêu cầu tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn P. Trong quá trình chung sống bà và ông P có một người con chung tên Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 11/10/2014, con chung hiện nay do bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi
-1-con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Tại biên bản hòa giải ngày 16 tháng 6 năm 2022 và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày: Về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và mâu thuẫn vợ chồng đúng như bà N trình bày. Trong quá trình chung sống ông có nhiều lần đánh bà N lý do bà N nhắn tin với người khác nên ông nghi ngờ bà N có quan hệ bất chính với người khác. Ông còn thương vợ nên không đồng ý ly hôn, ông yêu cầu cầu được hàn gắng tình cảm vợ chồng. Nếu Tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà N thì ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung vợ chồng tự thỏa thuận. Tại phiên tòa ông P đồng ý ly hôn, đồng ý giao con cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Ánh N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Văn P, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Nguyễn Văn P tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2013 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa bà N và ông P không được pháp luật thừa nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Nguyễn Văn P.
Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Ánh N với ông Nguyễn Văn P có một người con chung tên Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2014 con chung do bà N đang trực tiếp nuôi dưỡng, bà N yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiên tòa ông P đồng ý giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy sự thỏa thuận giữa bà N và ông P là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật phù hợp với nguyện vọng của con chung thể hiện tại bản tự tự khai ngày 17 tháng 5 năm 2022 của người con chung Nguyễn Bảo Q nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bà N và ông P, giao người con chung tên Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2014 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Nguyễn Văn P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
-2-
Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Thị Ánh N phải nộp 300.000 đồng, bà N đã nộp tạm ứng 300.000 đồng được đối trừ chuyển thu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Ánh N và ông Nguyễn Văn P.
2. Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 11 tháng 10 năm 2014 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn P có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. 3. Về án phí:
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Nguyễn Thị Ánh N phải chịu 300.000 đồng, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0017868 ngày 17 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, bà N đã nộp đủ án phí.
Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Chi cục Thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Triều -3- |