vanban.org

Bản án 62/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tân An, tỉnh Long An Tuyên án 12/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng V. Buộc ông Trần Minh V có nghĩa vụ trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng V số tiền nợ gốc là 51.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, người phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng với Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn V "Tranh chấp hợp đồng vay" Trần Minh V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng V. Buộc ông Trần Minh V có nghĩa vụ trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng V số tiền nợ gốc là 51.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2022/DS-ST
Ngày 12-9-2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài
sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Sở.

2. Bà Trần Thị Chiếm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh L tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 180/2022/TLST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2022/QĐXXST- DS ngày 10 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng V.

Địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà R, số 09 đường Đ, Phường K, Quận D, Thành phố H.

Người đại diện hợp pháp theo pháp luật: Ông Lô Bằng G – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Trần Trường G, sinh năm 1988

Địa chỉ: Tầng M, Tòa nhà R, số 09 đường Đ, Phường K, Quận D, Thành phố H.

(Theo văn bản ủy quyền số 05/UQTA- XLTD.22 ngày 22/6/2022)

2. Bị đơn: Ông Trần Minh V, sinh năm 1993.

Địa chỉ: số 205 ấp R, xã L, thành phố T, tỉnh L.

(Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 6 năm 2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng V do ông Trần Trường G đại diện theo ủy quyền trình bày:

Vào ngày 02/4/2020, ông Trần Minh V có ký hợp đồng tín dụng số 20200403-3982458 với Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng V vay số tiền 53.750.000đ với lãi suất thỏa thuận 3,08%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông V có trách nhiệm thanh toán số tiền 89.879.412đ (gồm cả gốc và lãi), trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng. Trong 35 tháng đầu mỗi tháng trả 2.492.354đ, tháng cuối trả 2.647.022đ, bắt đầu trả từ ngày 03/5/2020.

Thực hiện hợp đồng, ông V đã nhận đủ tiền để tiêu dùng cá nhân theo và thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng V được 03 lần với tổng cộng số tiền là 7.515.000đ. Kể từ ngày 02/7/2020 đến nay, ông V không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng V đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở.

Do ông V trễ hạn thanh toán, vi phạm hợp đồng nên công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông V thanh lý hợp đồng trả một lần cho công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V toàn bộ số tiền nợ bao gồm: gốc là 51.222.204đ và lãi là 31.142.208đ. Tổng cộng là 82.364.412đ.

Nguyên đơn công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V do ông Trần Trường Gđại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xác định giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Trần Minh V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông V vắng mặt không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có cơ sở xác định ông V có vay Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V số tiền 53.750.000 đồng, sau khi vay ông V chỉ thanh toán cho công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V số tiền 7.515.000đ và không tiếp tục thanh toán theo kỳ hạn đã thỏa thuận, đã để nợ quá hạn, tính đến nay ông V còn nợ công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V số tiền gốc và lãi là 82.364.412đ đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với ông Trần Minh V làm phát sinh tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Trần Minh V là bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố T, tỉnh L nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L.

Tại phiên tòa, ông Trần Minh V vắng mặt. Tuy nhiên, ông V đã được Tòa án thực hiện việc niêm yết, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập ông V đến các phiên tòa sơ thẩm nhưng ông V không chấp hành nên Tòa án xét xử vắng mặt đối với ông V là đúng theo quy định tại Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V do ông Trần Trường Gđại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử đã xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Ông Trần Minh V đã được công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V giải ngân cho vay số tiền 53.750.000đ theo hợp đồng tín dụng số 20200403-3982458 ngày 02 tháng 4 năm 2020, khi vay có thống nhất thỏa thuận lãi suất và số tiền phải thanh toán là 89.879.412đ (gồm cả gốc và lãi). Ông V chỉ thanh toán gốc và lãi được 03 lần với số tiền 7.515.000đ. Nhiều lần công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V đã nhắc nhở, tạo điều kiện cho ông V trả nợ nhưng ông V vẫn cố tình né tránh, cho thấy ông V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo qui định tại Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Do đó yêu cầu khởi kiện của công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V là có cơ sở chấp nhận, cần buộc ông V phải có nghĩa vụ trả cho công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V số tiền gốc 51.222.204đ và lãi là 31.142.208đ. Tổng cộng là 82.364.412đ.

Về phương thức thanh toán: công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V yêu cầu ông Trần Minh V trả toàn bộ số tiền nợ bao gồm gốc và lãi là 82.364.412đ, yêu cầu trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ông V không có ý kiến thể hiện nên cần chấp nhận yêu cầu của công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V về phương thức thánh toán.

Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ.

Về án phí dân sự: Ông Trần Minh V phải chịu 4.118.221đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn ngân hàng V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại toàn bộ tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 463; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng V. Buộc ông Trần Minh V có nghĩa vụ trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng V số tiền nợ gốc là 51.222.204đ và lãi là 31.142.208đ. Tổng cộng là 82.364.412đ (tám mươi hai triệu, ba trăm sáu mươi bốn nghìn, bốn trăm mười hai đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, người phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng với Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Về án phí: Ông Trần Minh V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.118.221đ (Bốn triệu, một trăm mười tám nghìn, hai trăm hai mươi mốt đồng). Hoàn lại cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ngân hàng V số tiền 2.059.000đ (Hai triệu, không trăm năm mươi chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001706 ngày 08/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh L.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ