vanban.org

Bản án 62/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 25/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Giao bị cáo Trần Quốc P cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc Phục - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Quốc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2021/HS-ST
Ngày 25-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Mã Thị Kỳ

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Thu Uyển và bà Võ Thị Thanh Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thúy Nga là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hanh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 58/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2021, quyết định hoãn phiên tòa số: 28/2021/HSST-QĐ ngày 09 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo: Trần Quốc P, sinh ngày 16-01-2000, tại tỉnh Đăk Nông; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Lê Thị L; chưa có vợ, con; bị bắt tạm giữ từ ngày 29-4-2021 đến ngày 05-8-2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh - Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn K – Công ty Luật TNHH T, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đăk Lăk; địa chỉ: Số 111, đường L, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk – Có mặt.

Bị hại:

Ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn 4, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – Có mặt;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Văn T, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – Có mặt;

Người làm chứng:

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; địa chỉ: Bon B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt;

- Bà Thái Thị T, sinh năm 1960; địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt;

- Ông Nguyễn Thế H, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn 4, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông – Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 23-4-2021, Trần Quốc P đi ngang qua nhà anh Nguyễn Đình C, sinh năm: 1969, tại thôn 4, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; P nhìn vào sân nhà anh C thấy có một số bao xác rắn đang dựng ở sân được che đậy bằng bạt, P nghĩ các bao này là tiêu khô nên đã nảy sinh ý định đột nhập vào nhà anh C để lấy trộm. P lén lút đi qua vườn cà phê phía sau nhà anh C, sau đó trèo qua tường rào nhà anh C cao khoảng 1,2m rồi vào khu vực sân nơi có các bao xác rắn; P kiểm tra thì xác định là tiêu khô nên dùng tay hất 01 bao lên vai vác mang ra để bên ngoài khu vực tường xi măng, xây bao quanh khuôn viên nhà anh C. Sau đó, P tiếp tục quay lại vác thêm 02 bao tiêu khô có trọng lượng tương tự ra để tại vị trí bao đầu tiên, rồi đi vào sân nhà anh C lấy 05 vỏ bao xác rắn loại 50kg mang ra để che 03 bao tiêu khô đã chiếm đoạt được. Sau khi ra khỏi khuôn viên nhà anh C, P lần lượt vác 02 bao tiêu khô đi men theo tường cất giấu trong vườn cà phê của ông Nguyên Thế H cách nhà anh C 200m, bao tiêu còn lại P để ở mương nước gần rẫy nhà ông Hùng để mang đi tiêu thụ. P về nhà chị Thái Thị T, sinh năm 1960, trú tại thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông lấy xe mô tô hiệu Drem, màu xanh, không biển kiểm soát của P gửi trước đó rồi chạy quay lại vị trí mương nước chở bao tiêu này đến đại lý thu mua nông sản Cảnh Hướng của chị Nguyễn Thị H tại bon B, xã Đ, huyện Đ để bán. Tuy nhiên, do đại lý của chị H lúc này đã đóng cửa nên P giấu bao tiêu này trước cửa nhà chị H rồi về nhà ngủ. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 23-4-2021, P quay lại lấy bao tiêu giấu trước cửa nhà chị H để bán cho chị Nguyễn Thị H, chị H cân bao tiêu này là 46kg, giá 66.000 đồng/01kg, chị H trả cho P số tiền 3.036.000đ (Ba triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng), P cầm tiền mang đi tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 23-4-2021, P nhắn tin cho Lê Văn T qua tài khoản Facebook “T L”, nói T việc lấy trộm được 02 bao tiêu, đồng thời nhờ T sử dụng xe mô tô của T chở số tiêu khô còn lại đang dấu tại rẫy ông Nguyễn Thế H đem đi bán lấy tiền tiêu xài thì T đồng ý. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 48E1- 342.83 của T chở P đến vị trí giấu tiêu trước đó. Quá trình di chuyển, P và T thống nhất: Khi đến gần đoạn đường vào rẫy cà phê ông Hùng, chỗ cất dấu tiêu, P sẽ nhảy xuống xe đi bộ vào để kiểm tra, còn T chạy xe mô tô ở ngoài đường, đứng gần đó đợi. Nếu sau khi P đi vào rẫy cà phê rồi đi ra luôn thì số tiêu khô trộm được trước đó đã bị mất, còn nếu P đi vào khoảng 03 đến 05 phút không quay ra thì số tiêu trộm được vẫn còn, lúc này T sẽ chạy xe vào trong rẫy cà phê đến vị trí P đợi để chở tiêu mang đi bán. Sau khi đến vị trí như đã thống nhất, P xuống xe đi vào vườn cà phê gần vị trí giấu tiêu thì phát hiện có người ở trong rẫy, P sợ nên bỏ chạy xuống phía dưới, gần sình nước để trốn thoát. Đối với Lê Văn T, sau khi dừng xe ngoài đường đợi P khoảng 05 phút không thấy P ra nên T chạy xe mô tô vào trong rẫy cà phê như đã thống nhất với P trước đó. T chạy xe đến gần vị trí P giấu tiêu cách khoảng 10m thì bị lực lượng Công an bắt giữ. Tại Cơ quan Công an, Lê Văn T khai nhận việc được P nhờ đi chở tiêu, T không tham gia với P đi trộm cắp tiêu của gia đình anh C.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã tiến hành khám nghiệm hiện T, tuy nhiên chỉ thu giữ được 01 bao tiêu khô tại rẫy cà phê ông Nguyên Thế H, với trọng lượng 51kg, 01 bao tiêu khô còn lại đã bị mất. Ngày 29-4-2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã triệu tập Trần Quốc P làm việc, tại đây, Trần Quốc P thừa nhận đã có hành vi trộm cắp tài sản. Do đó, ngày 29-4-2021, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã ra lệnh giữ người trong T hợp khẩn cấp, ra quyết định tạm giữ hình sự và ra lệnh bắt người bị giữ trong T hợp khẩn cấp đối với Trần Quốc P, để điều tra về hành vi Trộm cắp tài sản.

Đối với 01 bao tiêu khô mà Trần Quốc P chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình C đã bị mất, quá trình làm việc với bị hại anh Nguyễn Đình C và bị cáo Trần Quốc P, xác định được số kilôgam tiêu khô đã bị mất là 55kg. Như vậy, tổng trọng lượng của 03 bao tiêu khô của anh Nguyễn Đình C bị Trần Quốc P chiếm đoạt là 152kg.

Tại Biên bản và bản Kết luận định giá tài sản số: 16/HĐ-ĐG ngày 05-5-2021, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk Song kết luận: Giá trị tính thành tiền của 97 kg tiêu khô (gồm 46kg và 51kg) tại thời điểm ngày 23-4-2021 là 6.402.000đ (Sáu triệu bốn trăm linh hai nghìn đồng).

Tại Biên bản và Bản kết luận định giá tài sản số: 21/HD-ĐG ngày 18-6-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk Song kết luận: Giá trị tính thành tiền của 55kg tiêu khô tại thời điểm ngày 23-4-2021 là 3.630.000đ (Ba triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng). Tổng giá trị thiệt hại tính thành tiền của 152kg tiêu khô mà Trần Quốc P chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình C là 10.032.000đ (Mười triệu, không trăm ba mươi hai nghìn đồng).

Cáo trạng số: 59/CT-VKS-ĐS ngày 11 tháng 10 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Trần Quốc P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Song truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Quốc P mức hình phạt 03 (Ba) tháng 06 (Sáu) ngày tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo chưa có gia đình riêng, đang sống phụ thuộc bố mẹ, không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song trả cho anh Nguyễn Đình C 01 (Một) bao tiêu khô có khối lượng 51kg mà bị cáo Trần Quốc P đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình C.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô kiểu dáng Dream có số khung: RL8DCG1DL71000367, số máy: VLEIP50FKG-3, không biển kiểm soát, mà Trần Quốc P sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản (Do quá trình điều tra, P khai mua lại của Lê Văn T trước đó nhưng không làm giấy tờ mua bán).

Đối với 46kg tiêu khô Trần Quốc P đã mang đi bán cho chị Nguyễn Thị H, sau đó chị H đã trộn chung với số tiêu khác, bán cho người khác, không thu giữ được nên không đề nghị xử lý.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định đối với 55kg tiêu và 05 bao xác rắn Trần Quốc P chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình C mang đi cất giấu sau đó bị mất (Do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã truy tìm các vật chứng nói trên nhưng không có kết quả, không thu hồi được).

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã trả lại cho Lê Văn T 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 48E1- 342.83 mà Lê Văn T dùng để chở Trần Quốc P đến vị trí cất dấu tiêu trộm cắp, vì quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Lê Văn T.

Đối với số tiền 3.036.000 đồng Trần Quốc P có được từ việc bán tiêu khô trộm cắp, do P đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này nên không thể thu giữ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Quốc P đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tài sản cho người bị hại Nguyễn Đình C, anh C không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường thiệt hại về tài sản nên không xem xét.

Bị cáo Trần Quốc P đồng ý với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Song, không bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện chữa bệnh.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ, điều kiện hoàn cảnh của bị cáo và điều kiện bản thân bị cáo hiện nay bị cáo đang bị bệnh u não, quá trình tạm giữ, tạm giam đã phải đưa đi cấp cứu và từng bị bệnh viện trả về, nay cần có thời gian chữa trị bệnh nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo, xét xử bị cáo mức hình phạt bằng với thời gian đã tạm giữ, tạm giam hoặc cho bị cáo được hưởng án treo để đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo được chữa trị bệnh kịp thời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAnh Tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đăk Song, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Song, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, các chứng cứ buộc tội và quan điểm đề nghị xử lý của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Do ý thức xem thường pháp luật nên khoảng 00 giờ 30 phút ngày 23-4-2021, Trần Quốc P đã lén lút đột nhập vào nhà anh C chiếm đoạt 152 kilôgam tiêu khô (03 bao), sau đó mang 02 bao tiêu đi cất giấu cách vị nhà anh C 200m, mang 01 bao tiêu (46kg) đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 23-4-2021, P rủ Lê Văn T chạy xe mô tô đến vị trí cất giấu tiêu để chở mang đi tiêu thụ thì bị phát hiện. Trần Quốc P bỏ trốn sau đó thì bị bắt giữ. Tổng giá trị thiệt hại của 152kg tiêu khô mà Trần Quốc P chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình C là 10.032.000đ (Mười triệu, không trăm ba mươi hai nghìn đồng). Do đó, đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của Trần Quốc P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các T hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a)…

2. …”

. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự chung tại địa phương. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, phạm tội lần đầu và thuộc T hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; ngoài ra, bị cáo được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét những tình tiết giảm nhẹ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo.

Xét luận cứ bào chữa của người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, sống phụ thuộc gia đình, hiện đang trong quá trình điều trị bệnh nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng vụ án: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song trả cho anh Nguyễn Đình C 01 (Một) bao tiêu khô có khối lượng 51kg mà bị cáo Trần Quốc P đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình C.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô kiểu dáng Dream có số khung: RL8DCG1DL71000367, số máy: VLEIP50FKG-3, không biển kiểm soát, mà Trần Quốc P sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản (Do quá trình điều tra, P khai mua lại của Lê Văn T trước đó nhưng không làm giấy tờ mua bán).

Đối với 46kg tiêu khô Trần Quốc P đã mang đi bán cho chị Nguyễn Thị H, sau đó chị H đã trộn chung với số tiêu khác, bán cho người khác, không thu giữ được nên không xử lý.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định đối với 55kg tiêu và 05 bao xác rắn Trần Quốc P chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình C mang đi cất giấu sau đó bị mất (Do Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã truy tìm các vật chứng nói trên nhưng không có kết quả, không thu hồi được).

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã trả lại cho Lê Văn T 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 48E1- 342.83 mà Lê Văn T dùng để chở Trần Quốc P đến vị trí cất dấu tiêu trộm cắp, vì quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Lê Văn T.

Đối với số tiền 3.036.000 đồng Trần Quốc P có được từ việc bán tiêu khô trộm cắp, do P đã tiêu xài cá nhân hết số tiền này nên cần truy thu để sung vào ngân sách nhà nước.

. Đối với hành vi của Lê Văn T, quá trình điều tra xác định: T và bị cáo Trần Quốc P không thỏa thuận việc trộm cắp tài sản từ trước, sau khi P trộm cắp được tài sản là tiêu khô của anh Nguyễn Đình C, mang đi bán và cất giấu, sau đó, P mới nói cho T biết, thời điểm này tội phạm của P đã hoàn thành. Do đó, hành vi của Lê Văn T không đồng phạm với Trần Quốc P về tội trộm cắp tài sản.

Đối với hành vi chạy xe mô tô để chở tiêu khô đi tiêu thụ sau khi Trần Quốc P trộm cắp được, quá trình điều tra xác định: T không thỏa thuận việc ăn chia số tiêu trộm cắp được với P, cũng không thỏa thuận việc cất giấu tiêu cho P hoặc tiêu thụ số tiêu trên cho P mà chỉ thỏa thuận việc chở tiêu giúp P để P bán sau đó P sẽ cho T tiền. Tuy nhiên, T chưa tiếp cận, chưa nhìn thấy được số tiêu P cất giấu thì bị phát hiện, T chưa thực hiện được hành vi vận chuyển số tiêu đó ra khỏi vị trí ban đầu mà P cất dấu. Do đó, hành vi của Lê Văn T chưa đủ yếu tố cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với chị Nguyễn Thị H đã mua số tiêu khô mà Trần Quốc P trộm cắp, quá trình điều tra xác định chị H không biết số tiêu khô mà bị cáo P bán là do trộm cắp mà có; mặt khác, chị H là người kinh doanh nông sản. Do đó, không có căn cứ để xử lý chị Nguyễn Thị H.

.Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Quốc P đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại anh Nguyễn Đình C, anh C không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường thiệt hại nên không xem xét, giải quyết.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Quốc P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Quốc P 07 (Bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Quốc P cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. T hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra trả cho anh Nguyễn Đình C 01 (Một) bao tiêu khô có khối lượng 51kg, mà bị cáo Trần Quốc P đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình C.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý theo quy định đối với 01 (Một) chiếc xe mô tô kiểu dáng Dream có số khung: RL8DCG1DL71000367, số máy: VLEIP50FKG-3, không biển kiểm soát mà Trần Quốc P sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý người đã chiếm đoạt 55kg tiêu và 05 bao xác rắn Trần Quốc P chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình C mang đi cất giấu sau đó bị mất.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Song đã trả lại cho Lê Văn T chiếc xe mô tô biển kiểm soát 48E1- 342.83 mà Lê Văn T dùng để chở Trần Quốc P đến vị trí cất dấu tiêu trộm cắp.

Truy thu sung vào ngân sách nhà nước đối với số tiền 3.036.000đ (Ba triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng) Trần Quốc P có được từ việc bán tài sản trộm cắp.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Quốc P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Quốc P và bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Văn T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ