vanban.org

Bản án 62/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 17/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Thào Văn B phạm tội "Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Thào Văn B 09 (Chín) tháng tù. Áp dụng Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Thào Văn B 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/8/2021.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào Văn B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2021/HS-ST
Ngày: 17-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Đức Thọ

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Nụ

Nơi công tác: Trường PT- DTBT Thái Học, huyện Bảo Lâm, Cao Bằng.

2. Ông Trương Đức Thành

Nơi công tác: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.

- Thư ký phiên toà: Ông Đàm Nhật Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BL, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Đàm Thanh Tình - Kiểm sát viên

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2021/ QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Thào Văn B, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2003 tại Bảo Lâm, Cao Bằng; đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm N, xã QL, huyện BL, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào Văn D và bà S Thị M (đã chết); chưa có vợ con; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Diệp Hảo, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

- Bị hại:

+ Vàng Mí S, sinh năm 2007; nơi cư trú: xóm K, xã T, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt). Người đại diện: Ông Nguyễn Văn N, giáo viên chủ nhiệm lớp 7C Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở T, xã T, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

+ Giàng Mí P, sinh ngày 17 tháng 02 năm 2007; nơi cư trú: xóm NP, xã T, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt). Người đại diện: Ông Nông Thế X, giáo viên chủ nhiệm lớp 8B Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở T, xã T, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

+ Hoàng Mí S, sinh ngày 07 tháng 7 năm 2007; nơi cư trú: xóm K, xã T, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt). Người đại diện: Ông Nông Quốc Y, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở T, xã T, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

+ Mò Văn L, sinh ngày 15 tháng 12 năm 2004; nơi cư trú: xóm NT, xã CB, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt). Người đại diện (bố đẻ): Ông Mò Văn O; nơi cư trú: xóm NT, xã CB, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi liên quan đến vụ án: Sùng Mí K, sinh ngày 07 tháng 12 năm 2005; nơi cư trú: xóm NT, xã T, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt). Người đại diện: Ông Trần Văn I, giáo viên chủ nhiệm lớp 9B Trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở T, xã T, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Thào Văn D, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1971; nơi cư trú: xóm NM, xã QL, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

+ Hoàng Văn S, sinh năm 2004; nơi cư trú: Khu 3, thị trấn PM, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Văng mặt). Người đại diện hợp pháp: Bà Lục Thị D, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ thị trấn PM, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

+ Lý Văn Đ, sinh năm 2002; nơi cư trú: xóm ĐS, xã NQ, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đồng thời là người làm chứng:

+ Hoàng Văn M, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2007; nơi cư trú: xóm R, thị trấn PM, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Có mặt). Người đại diện (bố đẻ): Ông Hoàng Giống V; nơi cư trú: xóm R, thị trấn PM, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

+ Hoàng Văn L, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2006; nơi cư trú: Khu 3, thị trấn PM, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Văng mặt). Người đại diện (mẹ đẻ): Bà Lầu Thị M; nơi cư trú: Khu 3, thị trấn PM, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

- Người làm chứng:

+ Khìn Văn H, sinh ngày 01 tháng 7 năm 1997; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xóm NM, xã CP, huyện B, tỉnh Cao Bằng; nơi tạm trú: Khu 6, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

+ Lầu Thị Ph, sinh ngày 24 tháng 10 năm 2004; nơi cư trú: xóm Khau Trà, xã Mông Ân, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt). Người đại diện: Bà Lục Thị D, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

+ Sùng Văn C, sinh ngày 09 tháng 4 năm 1983; nơi cư trú: xóm NM, xã QL, huyện BL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00' ngày 26/3/2021, Thào Văn B, trú tại Nặm Miòong, xã QL, huyện BL, tỉnh Cao Bằng điều khiển xe máy của gia đình chở Lầu Thị Ph (là người sống chung với Bằng như vợ chồng) đi thăm người thân tại Trung tâm y tế huyện BL, Cao Bằng. Khi đến nơi, Bằng đưa Phai vào Trung tâm y tế huyện BL, Cao Bằng rồi điều khiển xe máy đến quán điện tử "Luân Ly" thuộc Khu 2, thị trấn PM, BL, Cao Bằng. Chơi điện tử tại quán được một lúc, có Hoàng Văn L và Dương Văn D (sinh năm 2002, cùng trú tại R, thị trấn PM, BL, Cao Bằng) vào quán ngồi chơi điện tử cạnh Bằng. Lúc sau thì có thêm Hoàng Văn M đến quán. Bằng chơi điện tử đến khoảng 23 giờ 00' cùng ngày, thấy buồn ngủ nên đi ra ngồi ngủ trên xe máy ở trước cửa quán, ngủ được một lúc Long, Dậư và Thắng đi đến chỗ cạnh Bằng; Long nói, "Bọn mình đi trộm điện thoại ở T đi". nghe Long rủ như vậy Bằng, Dậư và Thắng đồng ý. Sau đó, vì xe của Bằng gần hết xăng Long lấy xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen mượn của anh trai trước đó để chở Bằng, còn Dậư lấy xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu trắng chở Thắng cả bốn cùng đi vào xã T, huyện BL, Cao Bằng. Khi qua chợ xã T, Dậư và Long điều kiển xe máy đi chậm song song với nhau và nói chuyện (bàn bạc để thực hiện hành vi trộm cắp) đi đến Trường phố thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở xã T, Cao Bằng. Dậư và Long lả người trực tiếp vào lấy trộm tài sản, còn Thắng và Bằng ở ngoài cảnh giới và trông xe máy. Khi đến cổng trường, Dậư bảo Long đi vượt qua trường học một đoạn quan sát xem còn có người không, khi không thấy có ai thì tất cả dừng xe. Sau đó, Thắng và Bằng chở Long và Dậư quay lại cổng trường, Long và Dậư xuống xe rồi đi vào trong trường tìm trộm tài sản còn Thắng và Bằng điều khiển xe đi vượt qua trường một đoạn rồi dừng ở lề đường đợi. Dậư và Long đi đến khu nhà ở của học sinh, thấy 01(Một) cửa phòng ngủ vẫn mở và các học sinh ở bên trong đã ngủ say nên Long nói với Dậư đợi ở cửa phòng để cảnh giới còn Long lén lút đi vào phòng rồi lần lượt lấy trộm được bốn chiếc điện thoại gồm: 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen của Hoàng Mí Sinh; 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu trắng của Vàng Mí S; 01(Một) điện thoại di động không rõ nhãn hiệu của S Mi Vạn và 01(Một) điện thoại nhãn hiệu Vsmart của Giàng Mi Pó đều là học sinh của Trường phổ thông dân tộc bán trú THCS xã T, Cao Bằng. Sau đó, Long đi ra đưa cho Dậư 02 (Hai) điện thoại vừa trộm được rồi cùng đi ra khỏi trường và đi bộ đến địa điểm Bằng và Thắng đang đứng đợi. Khi đến chỗ đợi, Bằng hỏi Dậư có trộm được điện thoại không, được Dậư cho biết là trộm được 04 (bốn) điện thoại. Sau đó cả bốn người chở nhau quay về thị trấn PM. Khi đến ngã ba thuộc Khu 2, thị trấn PM thì dừng lại, Bằng hỏi Dậư là chia điện thoại trộm được như thế nào thì Dậư nói là "Sáng mai nói chuyện sau nhé". Bằng đồng ý rồi xuống xe, còn Long, Dậu và Thắng tiếp tục đi xe máy về xóm R, thị trấn PM. Bằng đi bộ về đến quán điện tử lấy xe máy rồi đi đến Trung tâm y tế huyện BL, Cao Bằng đón vợ đi về nhà ngủ. Đến khoảng 09 giờ 00' cùng ngày, Bằng quay lại chơi tại quán điện tử kể trên thì gặp Thắng. Lúc này Bằng hỏi Thắng mấy chiếc điện thoại trộm được chia nhau như thế nào, Thắng trả lời là mỗi người lấy một chiếc điện thoại nếu Bằng muốn lấy thì đi tìm gặp Long để lấy vì Long đang cầm hai chiếc điện thoại. Sau đó, Bằng nói với Thắng là lúc nào rảnh rỗi sẽ đến gặp Long sau.

Đến khoảng 03 giờ 00' ngày 27/3/2021, Sính, S, Vạn, Pó phát hiện điện thoại bị mất trộm thì đã gọi mọi người dậy để tìm nhưng không thấy. Sau đó, cả bố người cùng đến Công an xã T, BL để trình báo sự việc. Ngày 07/4/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện BL tiến hành triệu tập Thào Văn B và Hoàng Văn M để ghi lời khai làm rõ, tại Cơ quan điều tra, Bằng và Thắng đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân và đồng phạm.

Quá trình điều tra, Thào Văn B còn khai nhận: Khoảng 01 tháng sau ngày trộm điện thoại ở xã T. Bằng một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu đỏ, đen của bố Bằng đi đến xã Vĩnh Quang, BL với mục đích tìm kiếm sơ hở để thực hiện hành vi trộm cắp. Khoảng 02 giờ 00' sáng, Bằng đi đến xóm Nà Tốm, xã Vĩnh Quang, huyện BL và phát hiện có một lán của công nhân xây dụng ở còn sáng điện, nhìn vào bên trong thấy có 02 nam công nhân đang ngủ, ở gần đầu một nguời có 01(Một) điện thoại di động, Bằng lén lút đi vào trong lán lấy trộm chiếc điện thoại trên. Sau đó Bằng đem chiếc điện thoại về để sử dụng được khoảng hơn 01 tháng. Sau đó, đem bán cho Lý Văn Đ trú tại ĐS, NQ, BL với giá 1.000.000 đồng, để trả nợ Đức vì trước đây Bằng nợ Đức số tiền 1.000.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành điều tra làm rõ điện thoại di động Thảo Văn B trộm cắp được là điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y12S màu xanh của anh Mò Văn L.

Ngoài ra, ngày 29/3/2021, Bằng cùng Long, Thắng và một số đối tượng đi đến trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở xã QL, huyện BL, trộm cắp được 07 (bảy) điện thoại di động các loại. Lần này Bằng đã lấy một chiếc điện thoại về sử dụng và nói với Long là sẽ không lấy chiếc điện thoại đã trộm được tại T vào ngày 27/03/2021 nữa thì Long đồng ý.

Tại kết luận định giá tài sản số: 87/KL-HĐĐGTS, ngày 26/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện Bảo Lâm kết luận: 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO A57 màu trắng - bạc, viền điện thoại bị móp ở góc dưới bên trái có giá là 1.440.000 đồng (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO A57 màu trắng có giá là 1.540.000 đồng, (Một triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng nhãn hiệu Vsmart Star màu xanh dương có giá là 1.264.000 đồng, (Một triệu hai trăm sáu mươi tư nghìn đồng); 01 (Một) điện thoại di động loại cảm ứng, không rõ nhãn hiệu, màu trắng, mặt sau điện thoại có chữ "SVS", Hội đồng định giá tài sản không đủ căn cứ để định giá. Tổng giá trị tài sản là: 4.244.000 đồng, (bằng chữ: Bốn triệu hai trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).

Tại kết luận định giá tài sản số 126/KL-HĐĐGTS, ngày 26/7/2021 kết luận: 01 (Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu VIVO Y12S màu xanh có giá là 3.790.000 đồng, (Ba triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng).

Quá trình xác minh về nhân thân của các đối tượng: Tại số Hộ khẩu gia đình của Thào Văn B tên chủ hộ là ông Thào Văn D (Bố đẻ của Bằng) có ghi Thào Văn B sinh ngày 21/08/2002; tuy nhiên, Thào Văn B không có giấy khai sinh, ngoài ra trong Sổ hộ khẩu có dấu hiệu bị tẩy xóa về nội dung ngày, tháng, năm sinh của Bằng. Ông D xác nhận đã tự sửa lại sổ hộ khẩu của gia đình, hiện nay D không nhớ rõ về ngày tháng năm sinh của Bằng. Xác minh tại trường Phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở QL, huyện BL, Cao Bằng hiện nay trường không còn lưu giữ hồ sơ, giấy tờ, tài liệu gì liên quan đến Thảo Văn B. Căn cứ lời khai nhận của Thào Văn D và lời khai của Sùng Văn C người sinh sống cùng xóm, có con gái sinh cùng năm với Bằng khai nhận, con gái của Câu là S Thị Thà sinh sau Bằng khoảng một tháng, tại giấy khai sinh của S Thị Thà xác định Thà sinh ngày 04/04/2003. Với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, căn cứ điểm a, Khoản 2, Điều 417 Bộ luận Tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, Cao Bằng xác định ngày tháng năm sinh của Bằng là 31 tháng 3 năm 2003. Như vậy, tại thời điểm phạm tội Bằng được 17 tuổi 11 tháng 24 ngày.

Căn cứ vào sổ hộ khẩu số và giấy khai sinh của các đối tượng Thắng, Long và Dậư xác định: Hoàng Văn M sinh ngày 10/02/2007, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Thắng được 14 tuổi 01 tháng 17 ngày; Hoàng Văn L sinh ngày 19/8/2006, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Long được 14 tuổi 08 tháng 08 ngày. Dương Văn D sinh ngày 09/12/2002, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Dậư được 18 tuổi 03 tháng 18 ngày.

Ngày 28/6/2021, Thào Văn B tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại huyện Hà Quảng, Cao Bằng và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hà Quảng bắt bị can để tạm giam từ ngày 13/8/2021.

Quá trình điều tra, Thào Văn B thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của Hoàng Văn L, Hoàng Văn M và phù họp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với 04 (Bốn) điện thoại di động Bằng cùng các đồng phạm trộm cắp vào ngày 27/3/2021, trong đó đối với 02 điện thoại Dậư được chia, trong quá trình điều tra Dậư đã bỏ trốn khỏi địa phương nên cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ được. Đối với 02 điện thoại mà Long giữ, sau khi trộm cắp được Long để 02 chiếc điện thoại trên tại nhà rồi đi làm thuê, khi quay về nhà thì không thấy điện thoại nữa. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không phát hiện thu giữ được.

01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y12S Bằng trộm được của bị hại Mò Văn L. Ngày 13/9/2021Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc điện thoại trên cho chủ sở hữu họp pháp Mò Văn L.

Đối với 01 (Một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen và HONDA WAVE màu trắng của Long và Dậư sử dụng để chở Bằng và Thắng đi trộm cắp điện thoại vào ngày 27/3/2021, Quá trình điều tra xác định, xe máy của Long sử dụng là Long mượn của anh trai Hoàng Văn S, khi mượn thì Long không nói với Sơn là mang đi đâu, làm gì nên cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ chiếc xe trên. Đối với xe của Dậư sử dụng, quá trình điều tra Dậư bỏ trốn khỏi địa phương nên cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ được.

01(Một) xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE màu đỏ, đen Bằng sử dụng đi trộm cắp điện thoại ở Nà Tốm, Vĩnh Quang, Quá trình điều tra xác định, xe máy trên là của bố Bằng ông Thào A D, khi Bằng mang xe đi thì không nói với D là mang đi đâu, làm gì nên cơ quan điều tra không tiến hành thu giữ chiếc xe trên.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào Văn B phạm tội "Trộm cắp

tài sản".

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1, Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Thào Văn B từ 09 đến 12 năm tù. Áp dụng Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo không quá 3/4 mức phạt tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về trách nhiệm dân sự, án phí: Xử lý theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Thào Văn B bà (Hoàng Thị Diệp Hảo): Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Bằng đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, tôi nhất trí đối với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, Cao Bằng về tội danh, điều luật đã truy tố về tội "Trộm cắp tài sản" theo tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự; tuy nhiên, với tư cách là người bào chữa tôi đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về các yếu tố sau; mức độ hành vi phạm tội mang tính chất đơn giản, bị cáo không phải là người khởi xướng, là người dân tộc thiểu, có được đi học đến lớp 7/12, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi , nhận thức pháp luật hạn chế, sinh sống tại nơi có điều kiện khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 và áp dụng Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo không quá 3/4 mức phạt tù cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất do Kiểm sát viên đề nghị là tương ứng với hành vi phạm tội, cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng người chung.

Các bị hại, người có quyền lợi liên quan và người đại diện, cùng có đơn xin xét xử vắng mặt; trong đó, nội dung có ý kiến như sau: Các bị hại giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra. Đối với các tài sản bị trộm, các bị hại vẫn chưa được trả lại, do đó các bị hại yêu cầu được bồi thường lại số tiền tương ứng với trị giá các điện thoại đã mất trộm cụ thể: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu trắng, bạc (của Vàng Mí S) có giá trị là 1.440.000 đồng, yêu cầu bị cáo bồi thường với trị giá là 800.000 đồng; 01 điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu 0PP0 A57 màu trắng (của Hoàng Mí S) có giá trị là 1.540.000 đồng, yêu cầu bị cáo bồi thường với trị giá là 800.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Star màu xanh dương (của Giàng Mí P) có giá trị là 1.264.000 đồng, yêu cầu bị cáo bồi thường với trị giá là 700.000 đồng; 01 điện thoại di động không rõ nhãn hiệu (của Sùng Mí K) mới mua được 03 tháng với trị giá là 1.200.000 đồng, (mong muốn bồi thường lại với trị giá là 700.000 đồng). Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Bằng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và nhất trí tự bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của các bị hại, yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét miễn nộp tiền án phí dân sự và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Lâm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 02 giờ sáng ngày 27/3/2021, tại Trường phổ thông Dân tộc bán trú Trung học cơ sở xã T, BL, Cao Bằng, bị cáo Thào Văn B cùng với Hoàng Văn L, Dương Văn D và Hoàng Văn M cùng nhau bàn bạc thống nhất, sau đó Bằng và Thắng cảnh giới và trông xe máy ở ngoài cổng trường, còn Long và Dậư lén lút bí mật đột nhập vào trong phòng ngủ của học sinh trộm cắp tài sản gồm 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu trắng - bạc (của Vàng Mí S) có giá là 1.440.000 đồng; 01(Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu OPPO A57 màu trắng (của Hoàng Mí S) có giá là 1.540.000 đồng; 01 (Một) điện thoại di động loại nhãn hiệu Vsmart Star màu xanh dương (của Giàng Mí P) có giá là 1.264.000 đồng; 01(Một) điện thoại di động không rõ nhãn hiệu, màu trắng (của Sùng Mí K), Hội đồng định giá tài sản không đủ căn cứ để định giá. Tổng giá trị tài sản mà các đối tượng trộm cắp là: 4.244.000 đồng. Ngoài ra, khoảng 01 tháng sau ngày bị cáo trộm cắp tại xã T, tại lán ở của công nhân thuộc xóm Nà Hôm, Vĩnh quang, BL, Cao Bằng, bị cáo Thào Văn B còn có hành vi lén lút đột nhập vào lán trộm cắp 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y12S màu xanh có giá là 3.790.000 đồng của Mò Văn L.

Tại phiên tòa, bị cáo Bằng đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với tạng vật vụ án, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

. Nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Thào Văn B sinh ra và lớn lên tại xóm N, xã QL, huyện BL, tỉnh Cao Bằng, học phổ thông đến lớp 7/12 thì bỏ học. Bị cáo có nhân thân xấu, lười lao động, ham chơi, nhưng lại muốn có tiền tiêu xài nên đã thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản, ngày 15/11/2021 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng xử phạt 04 tháng 15 ngày tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HS-ST; ngoài ra, ngày 28/6/2021 bị cáo trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị Công an huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng khởi tố và Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng truy tố về hành vi "Trộm cắp tài sản". Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Trong vụ án này, bị cáo Thào Văn B thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, ngày 27/3/2021 bị cáo trộm cắp tài sản của Vàng Mí S, Hoàng Mí S, Giàng Mí P; khoảng 01 tháng sau bị cáo lại trộm cắp tài sản của Mò Văn L; do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 cuả Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 27/3/2021, bị cáo chưa đủ 18 tuổi, nên được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt theo quy định pháp luật.

Trong vụ án này, đối với Dương Văn D là người được trực tiếp trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm đã ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Dương Văn D. Tuy nhiên, Dương Văn D sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương, hiện nay không rõ ở đâu, làm gì. Ngày 23/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, Cao Bằng ra Quyết định tách vụ án hình sự số 01, tách hành vi trộm cắp tài sản của Dương Văn D đế tiếp tục điều tra theo thẩm quyền là có căn cứ.

Đối với Hoàng Văn M và Hoàng Văn L, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội là người dưới 16 tuổi, hành vi của các đối tượng không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Công an huyện Bảo Lâm xử lý hành chính đối với 02 đối tượng trên bằng hình thức cảnh cáo theo khoản 3, Điều 134 của Luật xử lý vi phạm hành chính là có căn cứ.

. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Vàng Mí S, Hoàng Mí S, Giàng Mí P, người có quyền lợi liên quan Sùng Mí K yêu cầu bị cáo bồi thường lại số tiền tương ứng với những chiếc điện thoại đã bị mất, cụ thể:

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu trắng, bạc (của Vàng Mí S) có giá trị là 1.440.000 đồng, yêu cầu bị cáo bồi thường với trị giá là 800.000 đồng

- 01(Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu 0PP0 A57 màu trắng (của Hoàng Mí S) có giá trị là 1.540.000 đồng, yêu cầu bị cáo bồi thường với trị giá là 800.000 đồng.

- 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Star màu xanh dương (của Giàng Mí P) có giá trị là 1.264.000 đồng, yêu cầu bị cáo bồi thường với trị giá là 700.000 đồng.

- 01 (Một) điện thoại di động không rõ nhãn hiệu (của Sùng Mí K) mới mua được 03 tháng với trị giá là 1.200.000 đồng, mong muốn bị cáo bồi thường lại với trị giá là 700.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo, Hoàng Văn L, Hoàng Văn M và người đại diện của (Long, Thắng) các bà Lầu Thị M, bà Dương Thị Pàn nhất trí tự bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu trên, cụ thể: Bị cáo Bằng có trách nhiệm bồi thường cho Giáng Mí P số tiền 700.000 đồng, bồi thường cho Sùng Mí K số tiền 700.000 đồng; Hoàng Văn M và người đại diện hợp pháp, bồi thường cho Vàng Mí S số tiền 800.000 đồng; Hoàng Văn L và người đại diện hợp pháp, bồi thường cho Hoàng Mí S số tiền 800.000 đồng. Ý kiến của các bị hại, người có quyền lợi liên quan và bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội nên cần được chấp nhận. Ngoài ra, không ai có yêu cầu gì thêm.

. Hướng xử lý vật chứng: Đối với 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21s màu xanh, số Imei 1: 861177059792477, số Imei 2: 861177059792469, do bị cáo trộm cắp của bị hại Mò Văn L, ngày 13/9/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng, đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp Mò Văn L. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét thêm.

. Về án phí: Bị cáo Bằng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng; về án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Bằng thuộc hộ nghèo, còn Hoàng Văn L, Hoàng Văn M thuộc diện hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo và các đối tượng trên có đề nghị xin được miễn án phí. Hội đồng xét xử trong quá trình nghị án đã chấp nhận yêu cầu của bị cáo Bằng, Hoàng Văn L và Hoàng Văn M được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 17; Điều 38, điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Thào Văn B phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Thào Văn B 09 (Chín) tháng tù. Áp dụng Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Thào Văn B 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/8/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 2 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 586; Điều 587 của Bộ luật dân sự. Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo Thào Văn B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hoàng Văn L, Hoàng Văn M và người đại diện của (Long, Thắng) các bà Lầu Thị M, bà Dương Thị Pàn bồi thường trị giá những các điện thoại đã bị mất cho các bị hại, cụ thể:

- 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu 0PP0 A57 màu trắng, bạc (của Vàng Mí S) bồi thường bằng trị giá với số tiền 800.000 đồng, (bằng chữ: Tám trăm nghìn đồng).

- 01(Một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu 0PP0 A57 màu trắng (của Hoàng Mí S) bồi thường bằng trị giá với số tiền 800.000 đồng, (bằng chữ: Tám trăm nghìn đồng).

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Star màu xanh dương (của Giàng Mí P), bồi thường bằng trị giá với số tiền 700.000 đồng, (bằng chữ: Bảy trăm nghìn đồng).

- 01 (Một) điện thoại di động không rõ nhãn hiệu (của Sùng Mí K) bồi thường bằng trị giá với số tiền 700.000 đồng, (bằng chữ: Bảy trăm nghìn đồng).

"Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ lãi; hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; hoặc trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ về tài chính trong hoặc ngoài hợp đồng khác mà các bên không thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự hiện hành, trừ trường hợp có quy định khác".

3. Về xử lý vật chứng: Đối với 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y21s màu xanh, số Imei 1: 861177059792477, số Imei 2: 861177059792469 vào ngày 13/9/2021. Xác nhận, người bị hại Mò Văn L không có yêu cầu gì thêm.

4. Về án phí:

Bị cáo Thào Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng, (bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng), để nộp vào ngân sách Nhà nước; Về phí dân sự sơ thẩm bị cáo Thào Văn B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Hoàng Văn L, Hoàng Văn M được miễn toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (có mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (vắng mặt) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ