- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Anh - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (s a đ i, b sung năm 2017);
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 30 Bộ luật t tụng hình sự
| TÒA ÁN N DÂN HUYỆN BB TỈNH BT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2021/HS-ST Ngày: 15-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BB,
TỈNH BT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn A.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. ng Trần Ng c Đ.
2. Bà Phạm Thị Bích L.
- Thư ký phiên tòa: ng Bá Văn N - Thư ký Tòa án nhân dân huyện BB, tỉnh BT.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BB tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy M T - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện BB, tỉnh BT ét
sơ thẩm, c ng khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2021/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra ét số 59/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2021/HSST-QĐ ngày 29/6/2021 đối v i bị cáo:
Nguyễn Văn A, sinh năm 1995 (Tên g i khác: B); nơi sinh: Tỉnh BT.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn TH, xã HT, huyện BB, tỉnh BT. Ch ở hiện nay: Khu phố XA2, thị trấn CL, huyện BB, tỉnh BT.
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ h c vấn: L p 07/12;
Dân tộc: Kinh; Gi i tính: Nam; T n giáo: Kh ng; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972 và con bà Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1976;
Vợ, con: Chưa có;
A, chị, em: Có 03 con, l n nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 1999
Tiền án, tiền sự: Kh ng.
Bị cáo cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Huỳnh Đại N, sinh năm 1986 (Có mặt) Địa chỉ: Khu phố HP, Thị trấn CL, huyện BB, tỉnh BT.
- N ư i
h ng:
1. Nguyễn Thanh M, sinh năm 1987 (Vắng mặt). Địa chỉ: Th n TT, xã HT, huyện BB, tỉnh BT.
2. Nguyễn Thị N, sinh năm 1985 (Có mặt) Địa chỉ: Th n Lâm Lộc 2, ã HM, huyện TP, tỉnh BT.
NỘI DUNG V ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 12/4/2020, Nguyễn Văn A (Bé), sinh năm 1995 ngồi nhậu v i Trần Vũ D (Jack), sinh năm 1995, Huỳnh Hải T (Hai), sinh năm 1992 và một số bạn của A cùng trú tại thị trấn CL, huyện BB, tỉnh BT. Trong quá trình nhậu thì D có rủ A và nhóm bạn nhậu cùng uống nhà nghỉ Tiamo ở thôn BL, xã PRT, huyện BB, tỉnh BT để nhậu và hát Karaoke. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Hữu H, sinh năm 1993 ở ã Chí C ng, huyện TP, tỉnh BT điện thoại rủ A đến nhà Huy để nhậu cùng H và Nguyễn Ng c Cơ, sinh năm 1983, ở ã Hòa M, huyện TP, tỉnh BT, A đồng ý và điều khiển e t nhãn hiệu Mitsubishi Xpander biển số 86A-135.99 đi cùng Huỳnh Hải T đến nhà H. Huỳnh Hải T ngồi nhậu khoảng 05 phút thì đón e đi đến nhà nghỉ Tiamo để nhậu và hát Karaoke cùng nhóm D. Nguyễn Văn A ngồi nhậu v i H và Cơ được khoảng 15 phút thì A rủ H và Cơ đến nhà nghỉ Tiamo để nhậu và hát karaoke cùng nhóm D, H và Cơ đồng ý đi cùng A đến nhà nghỉ Tiamo. A điều khiển e t nhãn hiệu Mitsubishi Xpander biển số 86A-135.99 của A chở Cơ đi cùng, còn H điều khiển e t nhãn hiệu Toyota Fortuner biển số 86A-047.50 của H đi một mình đến nhà nghỉ Tiamo. Khi đến nhà nghỉ Tiamo thì A đến trư c và dừng e gần c ng bên trong sân nhà nghỉ, A và Cơ ngồi đợi H, khoảng 10 phút sau thì H chạy e t nhãn hiệu Toyota Fortuner biển số 86A- 047.50 đến dừng bên ngoài c ng nhà nghỉ. Lúc này khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, A, Cơ và H đi vào phòng hát Karaoke thì gặp Huỳnh Đại N (Cồ), sinh năm 1986, ở khu phố HP, thị trấn CL, huyện BB; Nguyễn Thanh M (Tèo Nhỏ), sinh năm 1987, ở th n TT, xã HT, huyện BB; D và Triều trong phòng hát Karaoke. Khi A, Cơ và H vừa vào phòng thì D nói v i A “đợi lâu quá tụi tao tính tiền về trư c”, nghe D nói thì A nói “ừ, tụi mày tính tiền về trư c đi”. Nhóm D đứng dậy ra khỏi phòng Karaoke thì A đi theo ra còn Cơ và H ngồi lại trong phòng. N, D, M, Triều và A đi đến bàn ghế đá ngồi đợi tính tiền thì A nói “th i tụi mày tính tiền về trư c đi”. Thấy A nhỏ mà nói v i D như vậy là hỗn nên M nói v i A “ở đây có l n có nhỏ sao mày kêu như vậy” thì A trả lời “tui đang nói chuyện v i thằng Jack”, thấy vậy N đi đến nơi A nói “ý mày là sao”, nghe N nói vậy nên A nói lại “Mày thích làm sao thì tao làm vậy”. Nghe A nói như vậy là ấc ược nên N dùng tay tát 01 cái vào mặt của A rồi bỏ chạy ra trư c c ng nhà nghỉ Tiamo, A đu i theo N, trên đường rượt đu i A nhặt lấy 01 cục gạch ống màu đỏ cầm trên tay đu i theo ra trư c c ng nhà nghỉ, thấy A tay cầm cục gạch ống màu đỏ đu i theo nên N cũng chạy đến đống gạch ếp ngoài c ng nhà nghỉ Tiamo nhặt lấy 01 cục gạch ống màu đỏ cầm trên tay. Khi A đu i kịp đến thì N và A đứng đối diện nhau cách khoảng 03 mét trên tay mỗi người đều cầm 01 cục gạch ống màu đỏ. Lúc này, N nói v i A: “Mày ngon mày bỏ cục gạch uống tao v i mày đánh tay đ i”, vừa nói N vừa bỏ cục gạch cầm trên tay uống đất rồi lao t i nơi A để đánh tay đ i v i A. Trong khi đó A vẫn còn cầm cục gạch trên bằng tay phải cũng lao đến nơi N. Khi N vung tay trái lên ngang mặt để lao vào đánh A (đầu của N hơi nghiêng về bên phải theo hư ng nhìn của N và hơi cúi uống, khoảng cách N và A khoảng 75cm) thì ngay lập tức A cũng vung tay phải đang cầm cục gạch ống lên quá đầu A và đập 01 cái từ trên uống dư i theo hư ng iên từ phải qua trái trúng vào vùng chẩm của N, N đi thụt lùi về sau khoảng 05 mét và lấy tay sờ vào đầu thì thấy đầu chảy máu, N sợ A đánh tiếp nên quay lại bỏ chạy về hư ng ã PRT, thấy N bỏ chạy nên A cầm cục gạch đu i theo N vài mét rồi dừng lại. N thấy đầu chảy nhiều máu nên cởi chiếc áo đang mặc quấn lên đầu để cầm máu. Lúc nghe đánh nhau thì H và Cơ trong phòng Karaoke cũng chạy ra, M thấy A đánh N nên cũng chạy t i thì bị H giữ tay M lại. A đi về phía c ng nhà nghỉ nơi H đang giữ tay M thì M nói “A em bạn bè sao mà sống dở vậy, nó kêu bỏ gạch uống đánh sao mày còn cầm gạch đánh nó”, nghe M nói vậy thì A ch i: “ĐM mày muốn gì nữa” rồi A đi đến nơi đống gạch trư c c ng nhà nghỉ nhặt lấy 01 tấm ván gỗ dài khoảng 01 mét, rộng khoảng 10cm cầm đến chỗ M đang bị H m giữ đập nhiều cái vào người M, H thấy vậy m i thả M ra và can ngăn. Thấy A cầm tấm ván đánh M nên Nguyễn Thị N, sinh năm 1985 ở ã Hòa M, huyện TP, tỉnh BT đến nhà nghỉ Tiamo để hát Karaoke cùng chồng là Nguyễn ThA Long, sinh năm 1981 ở ã PRT, huyện BB, tỉnh BT nhìn thấy, N chạy t i can ngăn và la hét nên A cầm tấm ván gỗ đập trúng vào cẳng tay của N, thấy A cầm tấm ván đánh trúng N nên Nguyễn Thanh L nhào t i định đánh A thì được H m can ngăn. Sau đó, A thả tấm ván uống đường và đi về phía e t nhãn hiệu Mitsubishi Xpander biển số 86A-135.99 của A đang đậu phía trư c c ng trong sân nhà nghỉ Tiamo, A lấy 01 cây gậy sắt ba khúc (cây dũ) để trong e t b c vào túi quần và đi lại phía M đang đứng, A rút gậy sắt trong túi quần ra đánh 03 cái trúng vào đầu của M và c tay của M, thấy M bị chảy nhiều máu nên A đi về phía e t nhãn hiệu Mitsubishi Xpander biển số 86A-135.99 của A. Triều thấy A tay cầm cây gậy sắt ba khúc trên tay nên Triều lấy cây gậy sắt ba khúc bỏ vào hộc đồ bên h ng cánh c a nơi ghế tài ế ngồi và kêu A lên e, Triều điều khiển e t nhãn hiệu Mitsubishi Xpander biển số 86A-135.99 của A để chở A về. Lúc này khoảng 17 giờ cùng ngày, Huỳnh Đại N nhặt lấy một cây gỗ dài khoảng 1,2 mét bên lề đường cầm trên tay đi từ hư ng ã PRT lên nhà nghỉ Tiamo. Khi Triều vừa lùi e ra trư c c ng nhà nghỉ thì lúc này N đã đi đến đứng trư c c ng nhà nghỉ Tiamo, N cầm cây gỗ dài khoảng 1,2 mét ch i: “ĐM mày uống e”, sau đó N hai tay cầm cây gỗ vung đập vào kính chắn gió, dàn đồng phía sau e t nhãn hiệu Mitsubishi Xpander biển số 86A-135.99, đập vào dàn đồng, kính chắn gió bên h ng, kính chiếu hậu, nẹp Ino bên phải, đập vào kính chắn gió phía trư c bên phần ghế tài ế, đập vào h ng bên trái e. Thấy N đập e nên Triều tiếp tục lùi e ra ngoài đường rồi điều khiển e chở A chạy về hư ng ã PRT, khi đến đoạn mở Triều điều khiển e quay đầu chạy về thị trấn CL. Nguyễn Thị N thấy M đầu chảy nhiều máu nên N chở M đến nhà bà Phạm Thị Minh T, sinh năm 1958, ở thôn BL, xã PRT, huyện BB, tỉnh BT (là y sĩ về hưu) khâu vá vết thương cho M. Huỳnh Đại N sau khi đập e của A thì vứt bỏ cây gỗ bên đường rồi đi bộ về hư ng ã PRT, trên đường đi N gặp Trần Ng c T (Quậy), sinh năm 1991, ở thôn BL, xã PRT, huyện BB, tỉnh BT (là người quen của N) đi ngang nhìn thấy N đầu bị chảy máu nên T chở N đến Bệnh viện đa khoa khu vực BB khâu vá vết thương. Huỳnh Đại N có đơn yêu cầu khởi tố vụ án,
lý Nguyễn Văn A.
Ngày 03/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện BB đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích của Huỳnh Đại N. Tại Bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 283/2020/TgT ngày 17/7/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh BT, kết luận thương tích của Huỳnh Đại N: Vết thương phần mềm vùng chẩm, hiện để lại sẹo, kích thước: (4,8 x 0,2)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%, vết thương do vật tày gây ra, có chiều hướng tác động từ sau ra trước.
Nguyễn Thanh M giám định tỷ lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên là 5% nhưng M có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án, kh ng yêu cầu lý đối v i Nguyễn Văn A nên Cơ quan điều tra kh ng em ét giải quyết.
Nguyễn Thị N bị Nguyễn Văn A cầm tấm ván gỗ đập trúng cẳng tay của N nhưng kh ng gây thương tích, N kh ng yêu cầu lý nên Cơ quan điều tra kh ng em ét giải quyết.
Huỳnh Đại N có hành vi cầm cây gỗ đập vào e t nhãn hiệu Mitsubishi Xpander biển số 86A-135.99 bị thiệt hại trị giá 47.220.600 đồng của Nguyễn Văn A. Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” riêng nên kh ng em ét lý trong vụ án này.
Vào ngày 16/4/2020, Nguyễn Văn A khai nhận v i C ng an ã PRT có cầm cục gạch ống đánh trúng vào đầu của Huỳnh Đại N nhưng trong quá trình điều tra, Nguyễn Văn A kh ng thừa nhận cầm cục gạch đập vào đầu của Huỳnh Đại N gây ra thương tích cho N v i tỷ lệ t n thương cơ thể là 02%. Nhưng qua các chứng cứ đã được Cơ quan điều tra thu thập như lời khai Huỳnh Đại N (bị hại), Nguyễn Thanh M, Nguyễn Thị N (N chứng), Kết luận giám định pháp y về thương tích, kết quả thực nghiệm điều tra đủ cơ sở kết luận chính Nguyễn Văn A là người cầm cục gạch đập vào đầu của Huỳnh Đại N gây nên thương tích v i tỷ lệ t n thương cơ thể là 2%.
Về tang, vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã t chức truy tìm 01 cục gạch ống màu đỏ mà Nguyễn Văn A dùng đánh Huỳnh Đại N, kết quả, tại khu vực nhà nghỉ Tiamo có nhiều cục gạch ống màu đỏ cùng loại, kh ng ác định được cục gạch ống màu đỏ nào mà A dùng đánh N nên kh ng tiến hành thu giữ; riêng các tang vật khác đã giải quyết trong vụ án Huỳnh Đại N, về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên kh ng em ét giải quyết trong vụ án này.
Về phần dân sự: Bị hại Huỳnh Đại N yêu cầu Nguyễn Văn A bồi thường tiền điều trị thương tích và các chi phí khác nhưng chưa đưa ra mức yêu cầu bồi thường, vì vậy sẽ em ét lý theo quy định. Hiện nay Nguyễn Văn A chưa bồi thường.
Tại Bản Cáo trạng số 53/CT-VKS.HBB ngày 14 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện BB truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được s a đ i, b sung năm 2017.
Tại phiên tòa, vị Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền c ng tố luận tội và trA luận tại hành vi phạm tội của bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được s a đ i, b sung năm 2017. Quá trình điều tra bị cáo không th a nhận hành vi phạm tội nhưng tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và tỏ ra thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng ét áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự được s a đ i, b sung năm 2017; phạt bị cáo Nguyễn Văn A từ 06 (Sáu) tháng đến
09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng.
Về tang, vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã t chức truy tìm 01 cục gạch ống màu đỏ mà Nguyễn Văn A dùng đánh Huỳnh Đại N, kết quả tại khu vực nhà nghỉ Tiamo có nhiều cục gạch ống màu đỏ cùng loại, kh ng ác định được cục gạch ống màu đỏ nào mà A dùng đánh N nên không tiến hành thu giữ; riêng các tang vật khác đã giải quyết trong vụ án Huỳnh Đại N, về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về phần trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 s a đ i b sung năm 2017; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 357; Điều 584; Điều 585; Điều 590 và Điều 687 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường cho bị hại Huỳnh Đại N theo hóa đơn có tại hồ sơ số tiền là 2.212.216 đồng. Đối v i yêu cầu về mất thu nhập 30 ngày/300.000 đồng/1 ngày của bị hại, tiền mất thu nhập của người nu i bệnh 20 ngày/200.000 đồng/1 ngày; tiền e đi lại 03 lần 800.000 đồng là có cơ sở, đề nghị Hội đồng ét chấp nhận. Đối v i tiền t n thất tinh thần bị hại yêu cầu là 10.000.000 đồng nhưng kh ng đưa ra được căn cứ nên đề nghị Hội đồng ét kh ng chấp nhận.
Bị cáo Nguyễn Văn A kh ng trình bày lời bào chữa, bị cáo nhất trí v i lời luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng ý v i quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện BB, in Hội đồng ét cho bị cáo được hưởng án treo.
Lời nói sau cùng bị cáo Nguyễn Văn A trình bày: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo hứa không bao giờ vi phạm nữa, bị cáo mong Hội đồng ét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Tr n cơ s nội dung v án, c n c vào các tài liệu trong h sơ v án đ đư c tranh t ng tại phi n t a, i đ ng x t x nhận đ nh như sau:
Về hành vi, uyết đ nh tố t ng: Các hành vi, Quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an huyện BB, Viện kiểm sát nhân dân huyện BB, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng và đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội của b cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp v i lời khai tại các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/4/2020 tại Nhà nghỉ Tiamo ở thôn BL, xã PRT, huyện BB, tỉnh BT để nhậu và hát Karaoke thì bị cáo Nguyễn Văn A có xảy ra mâu thuẫn trong sinh hoạt v i Huỳnh Đại N và Nguyễn Thanh M. Trong lúc xô xát bị cáo Nguyễn Văn A có cầm cục gạch ống (là hung khí nguy hiểm) đánh trúng vào đầu của Huỳnh Đại N gây ra thương tích cho N v i tỷ lệ t n thương cơ thể là 02%.
Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn A là nguy hiểm cho ã hội, đã âm phạm đến sức khỏe của người khác đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 đã s a đ i b sung năm 2017. Do đó, Bản cáo trạng số 53/CT-VKS.BB ngày 14/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện BB truy tố bị cáo theo khung hình phạt và điều luật đã viện dẫn trong cáo trạng lá có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo dùng gạch đánh vào đầu của Huỳnh Đại N gây ra thương tích cho N chỉ vì mâu thuẩn nên A phải chịu trách nhiệm hình sự đối v i toàn bộ hành vi và hậu quả đã gây ra. Tuy nhiên, xét thấy trong vụ án này nguyên N ảy ra xát là do N v c dùng tay tát vào mặt A, dẫn đến việc A dùng gạch đánh vào đầu N, bị hại cũng một có phần lỗi trong vụ án này.
[3 . T nh tiết t ng n ng, gi m nhẹ trách nhiệm h nh s :
- T nh tiết t ng n ng trách nhiệm h nh s : Bị cáo Nguyễn Văn A không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- T nh tiết gi m nhẹ trách nhiệm h nh s : Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng để bồi thường tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện BB nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguy n quan điểm truy tố và đề ngh Hội đ ng xét x áp d ng:
p dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được s a đ i b sung năm 2017)
X phạt bị cáo Nguyễn Văn A mức án từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách từ 12 (Mười hai) tháng đến 18 (Mười tám) tháng.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét x nhận thấy:
Bị cáo Nguyễn Văn A được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm tr ng, có nhân thân tốt, bị cáo đã tự nguyện nộp tiền bồi thường tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện BB nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đã s a đ i b sung năm 2017 cho bị cáo A được hưởng án treo và ấn định thời gian th thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về phần trách nhiệm dân s : Tại phiên tòa bị hại Huỳnh Đại N ác định bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn A bồi thường theo hóa đơn có tại hồ sơ vụ án số tiền là 2.212.216 đồng. Yêu cầu về mất thu nhập 30 ngày/300.000 đồng/1 tháng của bị hại = 9.000.000 đồng, tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh 20 ngày/200.000 đồng/1 ngày = 4.000.000 đồng; tiền e đi lại 03 lần 800.000 đồng = 2.400.000 đồng; tiền t n thất tinh thần là 10.000.000 đồng. T ng cộng là 27.612.216 đồng.
Hội đồng xét x thấy rằng: Đối v i yêu cầu về tiền thuốc có hóa đơn là 2.212.216 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận. Đối v i yêu cầu về mất thu nhập 300.000 đồng/1 ngày x 30 ngày của bị hại = 9.000.000 đồng, là kh ng có căn cứ mà chỉ chấp nhận cho bị hại là 10 ngày 200.000 đồng/1 ngày = 2.000.000 đồng; Đối v i tiền e đi lại 03 lần 800.000 đồng = 2.400.000 đồng là có căn cứ vì trong hồ sơ thể hiện bị hại có 03 lần đi vào Phan Thiết nên được chấp nhận; Đối v i tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh 200.000 đồng/1 ngày 20 ngày = 4.000.000 đồng, thấy rằng tại phiên tòa bị hại kh ng đưa ra được ai là người nuôi bệnh cho bị hại và v i thương tích của bị hại như vậy kh ng đến mức phải cần có người nuôi bệnh, do vậy kh ng có căn cứ để chấp nhận; Đối v i yêu cầu số tiền t n thất tinh thần của bị hại là 10.000.000 đồng, xét thấy bị hại không chứng mimh được v i tỷ lệ thương tật là 2% thì t n thất tinh thần ở mức độ nào nên Hội đồng xét x không chấp nhận yêu cầu này của bị hại. Như vậy, t ng cộng số tiền mà bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 6.616.216 đồng.
Về x lý vật ch ng v án: Do Cơ quan điều tra đã t chức truy tìm 01 cục gạch ống màu đỏ mà bị cáo Nguyễn Văn A dùng đánh bị hại Huỳnh Đại N, kết quả kiểm tra tại khu vực nhà nghỉ Tiamo có nhiều cục gạch ống màu đỏ cùng loại, không ác định được cục gạch ống màu đỏ nào mà bị cáo A dùng đánh bị hại N nên không tiến hành thu giữ, nên Hội đồng xét x không xem xét. Riêng các tang vật khác đã giải quyết trong vụ án Huỳnh Đại N, về tội: “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên kh ng xem xét giải quyết trong vụ án này.
[7 Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
V các l tr n,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (s a đ i, b sung năm 2017);
* Tuy n : Bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
* X phạt: Bị cáo Nguyễn Văn A 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian th thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án (ngày 15/7/2021).
Giao bị cáo Nguyễn Văn A cho Ủy ban nhân dân thị trấn CL, huyện BB, tỉnh BT nơi bị cáo A cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian th thách. Trường hợp bị cáo A thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.
Trong thời gian th thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 94 của Luật Thi hành án Hình sự năm 2019 nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp ã đề xuất Ủy ban nhân dân cấp ã báo cáo, đề nghị Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
* Về phần dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 s a đổi bổ sung năm 2017; Điều 30 Bộ luật t tụng hình sự năm 2015; Điều 357; Điều 584; Điều 585; Điều 590 và Điều 687 Bộ luật dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải bồi thường cho bị hại Huỳnh Đại N v i số tiền là 6.616.216 đồng. Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Văn A đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân huyện BB vào ngày 14/7/2021 để đảm bảo thi hành án.
Kể từ ngày B n án có hiệu l c pháp luật và có đơn y u cầu thi hành án (đối với kho n tiền ph i b i thường cho người đư c thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên ph i thi hành án còn ph i ch u kho n tiền lãi của số tiền còn ph i thi hành án theo m c lãi suất quy đ nh tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân s 2015, trừ trường h p pháp luật có quy đ nh khác.
*
n ph : p dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ BTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 330.606 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường h p B n án đư c thi hành án theo quy đ nh tại Điều 2 Luật thi hành án dân s th người đư c thi hành án dân s , người ph i thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án ho c b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án đư c th c hiện theo quy đ nh tại Điều 30 của Luật thi hành án dân s .
Quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm của bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BT; - VKSND tỉnh BT; - VKSND huyện BB; - C ng an huyện BB; - Nhà tạm giữ - C ng an huyện BB; - Bị cáo, người tham gia tố tụng; - Chi cục THADS huyện BB; - Lưu HSVA, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tu n A |