- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Qui - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2021/HS-PT Ngày: 30-8-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trinh.
Các Thẩm phán Ông Phạm Hoàng Dũng.
Bà Huỳnh Thị Bích Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Cần - thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Lộc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30-8-2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai, vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 119/2021/TLPT-HS ngày 13-8-2021, đối với bị cáo Lê Văn Q, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 43/2021/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân quận M.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Văn Q; sinh ngày 01 tháng 01 năm 1980. Nơi cư trú: Khu vực T, phường A, quận M, thành phố Cần Thơ. Nghề nghiệp: Làm thuê, bảo vệ; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn M (chết) và bà: Đoàn Thị V; có vợ: Nguyễn Thị Ngọc T và 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt, tạm giam: 30-6-2021. Có mặt.
Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn Q và Nguyễn Thị Ngọc T kết hôn với nhau vào tháng 3-2007. Đã có một con chung sinh năm 2008. Trong quá trình sinh sống đã phát sinh mâu thuẫn, không thể hóa giải được. Tháng 10-2020, T đã gửi đơn xin ly hôn với Q, tại Tòa án nhân dân quận M. Trong thời gian chờ Tòa án giải quyết, Q thường mắng chửi và đe dọa T.
Khoảng 10 giờ 50 phút, ngày 03-02-2021, Q nhìn thấy T điều khiển xe mô tô, chở Lê Thị Như Ý (là con gái sn 2008) Q chặn xe của T và chửi mắng. Sau đó, Q bỏ đi về nhà của Q, chuẩn bị 01 chai xăng.
Khi T điều khiển xe về tới sân nhà. Q cầm chai xăng chạy đến, đổ vào người của T. T bỏ chạy và truy hô lên. Q cầm cục bê tông, đập vào đầu của T. Lúc này T còn đội nón bảo hiểm. T ngã xuống sân. Lúc này ông Nguyễn Văn C (là cha của T) chạy ra can ngăn. Ông C cầm 01 khúc gỗ khô, đánh vào cánh tay trái của Q. Khúc cây bị gãy. Q cầm cục bê tông, đập vào đầu của ông C. Nguyễn Ngọc A (là anh của T) chạy ra. Q bỏ đi.
Theo Kết luận Giám định pháp y, ông C bị thương tích như sau: Vết thương vùng thái dương trái gây chấn động não (02 x 0,2) cm, đã được điều trị nội khoa. Vết thương đã lành sẹo, không ảnh hưởng chức năng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
Theo Kết luận Giám định pháp y, T bị thương tích như sau: Chấn thương vùng đầu gây chấn động não, đã được điều trị nội khoa. Vết thương đã lành, không ảnh hưởng chức năng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.
Ông C và T chỉ yêu cầu xử lý đối với Q, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Tại bản án số 43/2021/HSST ngày 30-6-2021, Tòa án nhân dân quận M đã áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Lê Văn Q 01 năm 06 tháng tù.
Ngoài ra, còn có quyết định về xử lý vật chứng và án phí trong vụ án.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 09-7-2021, bị cáo kháng cáo, xin giảm mức hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo, không có cung cấp thêm chứng cứ về các tình tiết mới.
Kiểm sát viên nhận định: bản án sơ thẩm đã tuyên có căn cứ và đúng pháp luật. Khi lượng hình Tòa án sơ thẩm đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ theo luật định cho bị cáo. Mức hình phạt đã tuyên đối với bị cáo là tương xứng, nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của Pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề khác có liên quan.
Giữa bị cáo với các bị hại có quan hệ thân tộc với nhau. Chỉ vì tranh chấp tài sản trong khi Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn, bị cáo đã sinh lòng thù ghét và quyết tâm sử dụng bạo lực để áp đảo. Bị cáo đã sử dụng khối bê tông cân nặng 1,75 kg, đập vào đầu của các bị hại, rồi bỏ đi, để mặc cho hậu quả. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do vết thương gây ra cho ông C là 2% và cho T là 1%. Hành động rất côn đồ, vong tình, vong nghĩa, bất chấp Pháp luật.
Xét xử bị cáo theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Khi lượng hình Tòa án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết của vụ án và tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Tình hình hiện nay các tội phạm xâm phạm sức khỏe và tính mạng của người khác có xu hướng tăng, gây thiệt hại lớn lao về tính mạng và sức khỏe của con người, gây thiệt hại rất lớn về tài sản, gây mất an ninh trật tự và an toàn xã hội. Đối với bị cáo cần áp dụng mức hình phạt cho nghiêm mới đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức hình phạt đã tuyên, đối với bị cáo, như vậy là không nặng, nên giữ nguyên, như kết luận của Kiểm sát viên.
Bị cáo đã gây thương tích cho 02 người. Nên không áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình. Cần điều chỉnh cho phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm (có điều chỉnh điều luật áp dụng).
Tuyên bố bị cáo Lê Văn Q phạm tội Cố ý gây thương tích.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Lê Văn Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 30 - 6 - 2021.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành.
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(ĐÃ KÝ)
| Nơi nhận: - VKSND TPCT; - Trại tạm giam – Công an TPCT; - Cơ quan tố tụng Q.M; - Bị cáo; - Lưu. | Nguyễn Văn Trinh |