vanban.org

Bản án 62/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B.

Buộc ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt số tiền 34.010.318đ (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu, không trăm mười nghìn, ba trăm mười tám đồng). Buộc ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP B khoản tiền lãi theo mức lãi suất… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "B V-V,H"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2021/DS-ST
Ngày: 13/5/2021
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.

Ông Nguyễn Văn Sáu.

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Đang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Trong ngày 13 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý: 24/2021/TLST-DS ngày 11 tháng 01 năm 2021về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2021/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 47/2021/QĐST-DS, ngày 27 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần B.

Địa chỉ: Tòa nhà HM, Số 4, N, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Quang T, chức vụ: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thanh H, chức vụ Phó Giám đốc trung tâm quản lý và thu hồi nợ.

Địa chỉ: Tòa nhà HM Số 4, N, Phường D, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người nhận ủy quyền lại: Bà Nguyễn Ngọc Tuyết N (có mặt)

Địa chỉ: 143, đường N, Phường S, thành phố M, tỉnh T.

Bị đơn: Ông Đinh Văn V, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh T.

Ông Đinh Văn H, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 01/12/2020, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B trình bày: Ngân hàng TMCP B (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) ký kết với ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H hợp đồng tín dụng số 0311800150100 ngày 25/12/2018. Theo đó, Ngân hàng cho ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H vay số tiền: 30.000.000 (Ba mươi triệu đồng); Thời hạn vay: 36 tháng; Mục đích vay: Tiêu dùng phục vụ đời sống; Lãi suất: 10%/năm; Ngày đến hạn: 03/01/2022; Phương thức trả nợ: Trả lãi vào ngày 15 định kỳ 01 tháng/lần. Trả nợ gốc vào ngày 15 định kỳ 01 tháng/lần với số tiền 833.333 đồng. Kỳ trả gốc đầu tiên vào ngày 15/02/2019, kỳ trả gốc cuối cùng vào ngày đến hạn với số tiền 8.333.345 đồng; Lãi suất chậm trả 10% lãi suất vay trong hạn, được tính trên số vốn gốc bị quá hạn và số ngày quá hạn; Lãi suất phạt quá hạn: 150% lãi suất vay trong hạn, được tính trên số vốn gốc bị quá hạn và số ngày quá hạn; Biện pháp bảo đảm: Cấp tín dụng không có tài sản bảo đảm. Do ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn, tạm tính đến ngày 11/6/2020 ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là tiền là: 31.739.316đ (Bằng chữ: Ba mươi mốt triệu, bảy trăm ba mươi chín nghìn, ba trăm mười sáu đồng), trong đó:

Vốn vay nợ gốc: 30.000.000 đồng.

Vốn đã trả: 4.166.691 đồng.

Vốn còn phải trả: 25.833.309 đồng.

Lãi trong hạn: 4.197.899 đồng.

Phạt chậm lãi: 276.264 đồng.

Lãi quá hạn: 1.431.844 đồng.

Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H phải thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền 31.739.316đ (Bằng chữ: Ba mươi mốt triệu, bảy trăm ba mươi chín nghìn, ba trăm mười sáu đồng) (Trong đó vốn gốc là 25.833.309 đồng, lãi, lãi phạt tạm tính đến ngày 16/11/2020 là 5.906.007 đồng); Buộc ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H phải chịu toàn bộ tiền lãi/lãi phạt phát sinh kể từ ngày 17/11/2020 theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng số 0311800150100 ngày 25/12/2018 đến khi trả hết nợ, ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H phải trả nợ theo thứ tự sau: Phí/các khoản phải trả khác (nếu có), lãi quá hạn, trong hạn, vốn gốc. Thời gian thực hiện một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn ông Đinh Văn V, ông Đinh Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp và thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông V, ông H vắng mặt không có lý do, cũng không có ý kiến bằng văn bản về việc Ngân hàng khởi kiện các ông.

Tại phiên tòa chị Ngân vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông Đinh Văn V, ông Đinh Văn H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/5/2021 là 34.010.138đ (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu, không trăm mười nghìn, một trăm ba mươi tám đồng) và phải chịu toàn bộ tiền lãi/lãi phạt phát sinh kể từ ngày 14/5/2021 theo mức lãi suất được quy định trong hợp đồng tín dụng số 0311800150100 ngày 25/12/2018 cho đến khi trả hết nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu ông V và ông H trả số tiền vay nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo qui định tại Điều 463 của Bộ Luật Dân sự. Do bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Cai Lậy nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông V và ông H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nội dung vụ án: Ngân hàng TMCP B yêu cầu ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H phải trả tổng số tiền tính đến ngày 13/5/2021 là 34.010.138đ (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu, không trăm mười nghìn, một trăm ba mươi tám đồng) và phải chịu toàn bộ tiền lãi/lãi phạt phát sinh kể từ ngày 14/5/2021 cho đến khi trả hết nợ. Xét thấy, căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 0311800150100 ngày 25/12/2018, thì ông V và ông H có vay của Ngân hàng TMCP B số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 10%/năm, mục đích vay tiêu dùng phục vụ đời sống. Theo hợp đồng thì các bên thỏa thuận ông V và ông H phải trả nợ cho Ngân hàng trong thời hạn 36 tháng, Phương thức trả nợ: Trả lãi vào ngày 15 định kỳ 01 tháng/lần. Trả nợ gốc vào ngày 15 định kỳ 01 tháng/lần với số tiền 833.333 đồng. Kỳ trả gốc đầu tiên vào ngày 15/02/2019, kỳ trả gốc cuối cùng vào ngày đến hạn với số tiền 8.333.345 đồng; Lãi suất chậm trả 10% lãi suất vay trong hạn, được tính trên số vốn gốc bị quá hạn và số ngày quá hạn; Lãi suất phạt quá hạn: 150% lãi suất vay trong hạn, được tính trên số vốn gốc bị quá hạn và số ngày quá hạn. Thực hiện hợp đồng, ông V và ông H đã trả cho Ngân hàng 05 kỳ với tổng số tiền là 4.166.691 đồng. Kể từ ngày 15/7/2019 đến nay thì ông V và ông H không thanh toán thêm bất cứ khoản nào cho Ngân hàng là vi phạm thỏa thuận trong hợp đồng, gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, buộc ông V và ông H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền vốn vay còn nợ và tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất mà các bên đã ký kết theo hợp đồng là có căn cứ, phù hợp qui định của pháp luật.

Án phí: Ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo qui định tại Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố Tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B.

1. Buộc ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt số tiền 34.010.318đ (Bằng chữ: Ba mươi bốn triệu, không trăm mười nghìn, ba trăm mười tám đồng).

Buộc ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP B khoản tiền lãi theo mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng số 0311800150100 ngày 25/12/2018 kể từ ngày 14/5/2021 cho đến khi trả hết nợ.

2. Án phí: Ông Đinh Văn V và ông Đinh Văn H phải chịu 1.700.500đ (Bằng chữ: Một triệu bảy trăm nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt số tiền 794.000đ (Bằng chữ: Bảy trăm chín mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006337 ngày 08 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ