- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Cong H "Co y gay thuong tich" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công H và bị cáo Nguyễn Duy Kh, giữ nguyên mức hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2020/HS-PT Ngày: 23-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Duy Hoài
- Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Thanh
Ông Đặng Ngọc Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Trang – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 85/2020/TLPT-HS ngày 24 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Công H và đồng phạm; do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công H và bị cáo Nguyễn Duy Kh đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 64/2020/HS-ST ngày 14/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện ĐTr.
Các bị cáo kháng cáo:
1. Nguyễn Công H, sinh ngày 01/02/2001; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Xóm 2, thôn TA, xã TH, huyện ĐTr, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1961 và bà Đặng Thị Kim Th, sinh năm 1968; gia đình có 04 chị em, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất là bị cáo; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2019 đến ngày 21/02/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh, hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
2. Nguyễn Duy Kh, sinh ngày 16/6/2000; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT và cư trú: Số nH2 271, xóm 3 thôn Tân Hiệp, xã TH, huyện ĐTr, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Q, sinh năm 1970 và bà: Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1977; gia đình có 02 chị em, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất là bị cáo; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2019 đến ngày 21/02/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp bảo lĩnh, hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt.
Trong vụ án còn có bị hại không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 3/2019, Nguyễn Công H làm khoan giếng cho Lương Hoàng Trinh H1 ở xã Phú Hội, huyện ĐTr thì bị sự cố kẹt cần thì ông H1 có gọi cho Lương Việt Th1 đến giúp. Quá trình sửa chữa Th1 liên tục trách móc H vì để xảy ra sự cố dẫn đến việc hai bên mâu thuẫn. Ngày 13/4/2019, Th1 đăng ảnh mình đang khoan giếng lên mạng xã hội thì H có vào và bình luận “nước của giếng đó đủ dập chỗ ở của mày rồi đó” dẫn đến hai bên khiêu khích thách thức hẹn đánh nhau ở xưởng cưa xã Phú Hội. Bản thân H sợ không đánh lại Th1 nên có rủ Nguyễn Duy Kh đi cùng thì được Kh đồng ý. H đi từ nH2 tới quán game mà Kh đang ngồi chơi, H có nói Kh cầm theo hung khí nhằm mục đích đánh Th1 nên Kh về nH2 cầm 01 con dao tự chế dài khoảng 80cm, sau đó H dùng xe máy chở Kh đến điểm hẹn. Còn về phía Th1 khi đi Th1 có ghé qua chỗ Nguyễn Đại H2, Th1 nói cho H2 biết việc đánh nhau với H và tự ý lấy 01 con dao rựa dài 80cm cán bằng tre của H2 đang để trong chòi. Th1 một mình đi tới chỗ hẹn nhưng không thấy H đâu. Sau khi biết Th1 cầm con dao rựa đi đánh nhau thì H2 và Diệp Tấn Đ có đi theo để xem sự việc, tới nơi thì chỉ thấy Th1 đang đứng đợi H nhưng không có H nên H2 nói Đ chở Th1 đi về, Th1 lên xe ngồi sau Đ đi về tay vẫn cầm rựa. Trên đường đi từ Phú Hội hướng về TH thì nhóm Th1, Đ, H2 có gặp H đang chở Kh đi hướng ngược ra Phú Hội tại đoạn đường trước nH2 Thờ Tin Lành thuộc thôn Tân Đà, xã TH, huyện ĐTr. Đ dừng xe, Th1 bước xuống cầm cây rựa một mình chạy đến chỗ H và Kh. H cũng dừng xe để Kh bước xuống cầm dao tự chế chạy tới đối mặt với Th1. Tại đây Th1 và Kh lao vào chém nhau, Kh cầm dao tự chế bằng hai tay chém trúng tay phải và tay trái của Lương Việt Th1, Kh cũng bị Th1 chém nhưng né được nên không để lại thương tích gì. Sau khi Th1 thấy mình bị thương và thất thế nên bỏ chạy vào quán cà phê bên cạnh. Thấy vậy, H có chạy đến chỗ Kh để lấy dao tự chế đuổi theo chém Th1 nhưng Kh không đưa dao, H chạy bộ đuổi theo nhưng không đánh được Th1. Lúc này H2 có chạy tới can khuyên Kh và H đi về. Sau khi H và Kh đi về thì H2 và Đ đưa Th1 đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện ĐTr.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 223/2019/TgT ngày 16/9/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận Lê Việt Th1 bị vết thương cẳng tay phải 3,5cm, khuỷu tay trái 3,5cm, nứt bản ngoài 1/3 dưới xương quay cẳng tay phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 12% (mười hai phần trăm) tổn thương do vật sắc gây nên.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra Nguyễn Công H và Nguyễn Duy Kh đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường khắc phục một phần thiệt hại.
Vật chứng trong vụ án: Quá trình điều tra thu giữ 01 dao tự chế bằng kim loại dài 75cm, cán kim loại quấn băng đen dài 23cm là con dao mà Nguyễn Duy Kh dùng chém Th1 hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐTr chờ xử lý. Đối với con dao mà Lương Việt Th1 dùng giải quyết mâu thuẫn với H sau khi bị Kh chém gây thương tích Th1 đã bỏ lại hiện trường, qua công tác tìm kiếm không thấy nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Lương Việt Th1 yêu cầu Nguyễn Công H và Nguyễn Huy Kh bồi thường chi phí điều trị, tổn thất tinh thần số tiền 150.000.000 đồng, trong đó có hóa đơn là 3.542.699 đồng. H và Kh đã khắc phục được 20.000.000 đồng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án huyện ĐTr chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 51/CT - VKS ngày 11 tháng 3 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐTr đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện ĐTr để xét xử bị cáo: Nguyễn Công H, Nguyễn Duy Kh về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại bản án số 64/2020/HS-ST ngày 14/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện ĐTr đã xử;
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công H, Nguyễn Duy Kh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 đối với các bị cáo Nguyễn Công H, Nguyễn Duy Kh.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công H 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2019 đến ngày 21/02/2020.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy Kh 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2019 đến ngày 21/02/2020.
Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo.
* Ngày 22/5/2020 bị cáo Kh kháng cáo xin hưởng án treo.
* Ngày 22/5/2020 bị cáo H kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo và giữ nguyên kháng cáo. Các bị cáo xuất trình chứng cứ mới là sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại, bị hại cũng đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên hình phạt như bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Do mâu thuẫn trước đó dẫn đến việc H và Th1 khiêu khích thách thức hẹn đánh nhau ở xưởng cưa xã Phú Hội. Bản thân H sợ không đánh lại Th1 nên có rủ Nguyễn Duy Kh đi cùng thì được Kh đồng ý. Khi gặp H và Kh, Th1 bước xuống xe cầm cây rựa một mình chạy đến để chém H và Kh. H dừng xe, Kh bước xuống cầm dao tự chế lao vào chém nhau với Th1, Kh cầm dao tự chế bằng hai tay chém trúng tay phải và tay trái của Lương Việt Th1, Kh cũng bị Th1 chém nhưng né được nên không để lại thương tích gì. Sau khi Th1 thấy mình bị thương và thất thế nên bỏ chạy vào quán cà phê bên cạnh. Thấy vậy, H có chạy đến chỗ Kh để lấy dao tự chế đuổi theo chém Th1 nhưng Kh không đưa dao, H chạy bộ đuổi theo nhưng không đánh được Th1. H quả Th1 bị thương tích 12%. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của các bị cáo xin được hưởng án treo: Đơn kháng cáo của các bị cáo gửi trong hạn luật định nên được xem xét.
hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, biết rõ việc dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện gây tổn hại 12% sức khỏe của bị hại. Với hành vi nêu trên của các bị cáo cần có mức hình phạt cần thiết để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Xét thấy, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo H và Kh đã bồi thường số tiền còn lại 33.842.699 đồng cho Lương Việt Th1, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐTr theo biên lai thu số 0000511 ngày 21/5/2020 (BL239). Đồng thời, các bị cáo tự nguyện nộp án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm (BL240,247).
Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, chưa có tiền án tiền sự, nhân thân tốt, bị hại cũng có phần lỗi là khiêu khích và dùng hung khí nguy hiểm tấn công các bị cáo trước. Bị hại cũng đã xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên cần căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự và áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Công H và bị cáo Nguyễn Duy Kh, giữ nguyên mức hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo.
1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Công H, Nguyễn Duy Kh phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 đối với các bị cáo Nguyễn Công H, Nguyễn Duy Kh.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Công H 36 (ba sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (23-7-2020).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy Kh 36 (ba sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (23-7-2020).
Giao các bị cáo Nguyễn Công H, Nguyễn Duy Kh cho Ủy ban nhân dân xã TH, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (02); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND huyện ĐTr (02); - VKSND huyện ĐTr(01); - Cơ quan CSĐT CA huyện ĐTr (01); - Cơ quan THAHS CA huyện ĐTr (01); - Cơ quan THADS CA huyện ĐTr (01); - Phòng PV 27 Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (02); - Hồ sơ THAHS (04); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Duy Hoài |