- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa bà Tạ Kim N với ông Tô Văn Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Tạ Kim N và ông Tô Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2020/HNGĐ-ST Ngày: 09-7-2020 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Lộc.
Bà Nguyễn Kim Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 09 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2020/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2020 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Tạ Kim N, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh C.
- Bị đơn: Ông Tô Văn Đ, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 01 năm 2020 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Tạ Kim N trình bày: Vào năm 2007 bà và ông Đ tự nguyên chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, nhưng sau thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi và bất đồng quan điểm, ông Đ không chung thủy, có quan hệ bất chính với người khác. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân đã xảy ra mâu thuẫn và không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tô Văn Đ. Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông Đ có hai
-1-người con chung tên Đ1 (giới tính nam), sinh ngày 10 tháng 11 năm 2008 và Đ2 (giới tính nam), sinh ngày 11 tháng 12 năm 2010, con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai người con chung, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Ông Tô Văn Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông Đ vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Tạ Kim N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Tô Văn Đ, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Tô Văn Đ là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Tô Văn Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Kim N và ông Tô Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2007 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa bà N và ông Đ không được pháp luật thừa nhận. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Tạ Kim N và ông Tô Văn Đ.
Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà Tạ Kim N và ông Tô Văn Đ có hai người con chung tên Đ1, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2008 và Đ2, sinh ngày 11 tháng 12 năm 2010, con chung do bà N đang trực tiếp nuôi dưỡng, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi hai con chung. Xét thấy, con chung hiện nay do bà N trực tiếp nuôi dưỡng, hai người con chung có nguyện vọng được chung sống với bà N. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản cho ông Đ nhưng ông Đ vắng mặt, không có ý kiến về yêu cầu nuôi con chung của bà N. Để đảm bảo sự ổn định và phát triển bình thường của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Tạ Kim N, giao hai người con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Tô Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Bà N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Tạ Kim N, ông Tô Văn Đ không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà N phải chịu 300.000đ, bà N đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí.
Vì các lẽ trên,
-2-
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 9, Điều 14; Điều 15; Điều 53; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Tạ Kim N và ông Tô Văn Đ.
- Về quyền nuôi con chung: Giao hai người con chung tên Đ1 (giới tính nam), sinh ngày 10 tháng 11 năm 2008 và Đ2 (giới tính nam), sinh ngày 11 tháng 12 năm 2010 cho bà Tạ Kim N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Tô Văn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về án phí: Bà Tạ Kim N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0019797 ngày 31 tháng 01 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; bà N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm , bà Tạ Kim N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Tô Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Việt Triều -3- |