vanban.org

Bản án 62/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hà Văn H phạm tội giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2019/HS-ST
Ngày 26 tháng 11 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Thành;

Thẩm phán: Ông Hồ Văn Việt;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tần;

Ông Nguyễn Ngọc Thắng;

Ông Nguyễn Xuân Đào;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Việt Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đào Thúy Chinh- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2019/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2019.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2019/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn H, sinh ngày 23/3/1987 tại huyện Thanh S, tỉnh P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: xóm Vùng, xã Võ M, huyện Thanh S, tỉnh P; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề ngH trước khi phạm tội: Lao động tự do; Con ông: Hà Văn Đ, sinh năm 1962 và bà: Hoàng Thị H, sinh năm 1963; Anh chị em ruột: Gia đình có 4 chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Hoàng Thị T (đã chết); Con: Có 2 con, con lớn sính năm 2012, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/7/2019 đến nay, hiện Đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).

* Luật sư bào chữa cho bị cáo:

Ông Chu Văn Quyền - Luật sư Công ty Luật hợp danh Hùng Vương Phú Thọ thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)

* Người bị hại:

Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1991

Địa chỉ: xóm Vùng, xã Võ M, huyện Thanh S, tỉnh P (đã chết)

Đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Ngô Thị M, sinh năm 1958

Địa chỉ: xóm Vùng, xã Võ M, huyện Thanh S, tỉnh P. (Có mặt).

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Ngô Thị M, sinh năm 1958

Địa chỉ: xóm Vùng, xã Võ M, huyện Thanh S, tỉnh P. (Có mặt).

2. Ông Hoàng Đình Ph, sinh năm 1952

Địa chỉ: Thôn Tân T, xã Chi L, huyện Hưng H, tỉnh T. (Vắng mặt).

2. Cháu Hà Hoàng Long N, sinh ngày 05/3/2012 và Cháu Hà Hoàng Linh Đ, sinh ngày 01/01/2018.

Địa chỉ: xóm Vùng, xã Võ M, huyện Thanh S, tỉnh P

Đại diện hợp pháp của cháu N và cháu Đ: Ông Hà Văn Đ, sinh năm 1962

Địa chỉ: xóm Vùng, xã Võ M, huyện Thanh S, tỉnh P. (Có mặt).

* Người làm chứng:

1. Ông Hà Văn Đ, sinh năm 1962

Địa chỉ: xóm Vùng, xã Võ M, huyện Thanh S, tỉnh P. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 02/6/2019, tại xóm Vùng, xã Võ M, huyện Thanh S, tỉnh P, vợ chồng Hà Văn H - sinh năm 1987 và chị Hoàng Thị T - sinh năm 1991 đang nằm nghỉ trên giường thì xảy ra mâu thuẫn với nhau về việc cách đó mấy hôm H có đi uống bia và hát với bạn bè về nhà muộn (khoảng 1 giờ sáng), sau đó thì H bị ốm. H nằm ngoài, T nằm giữa và con gái nằm trong cùng giáp tường. Khi H sử dụng máy điện thoại di động để đăng nhập vào tài khoản fabook “Hà H” và đăng hình ảnh mình đang nằm trên giường bệnh thì có nhiều bạn bè nói chuyện, chia sẻ. Chị T cũng sử dụng điện thoại và sử dụng tài khoản facebook là “Hoàng T” để bình luận cùng với bạn của H và nói “thằng nát rượu như anh mà lắm người quan tâm phết nhỉ, hôm trước bọn anh đi cave ôm chứ cái đéo gì, tôi lạ gì bọn anh”, chị T còn nói rất nhiều. H bực mình và nói “Con này điên à, cái đấy không phải thế giới của tao, tao làm quần quật suốt ngày, suốt đêm, có đi xả tress với bạn bè một hôm mày lèo nhèo mãi không chán à”. Chị T nói: Anh đi nhậu nhẹt rượu chè về khổ vợ, khổ con tất cả lại đổ lên đầu tôi. H tức giận nói “Mày nói ít thôi, im mẹ cái mồm mày đi tao điên lên tao đập cho mày vỡ mồm bây giờ”. Lúc đó, chị T ngồi bật dậy, dùng tay phải cào làm xước sát mặt H, vừa cào vừa chửi: “tao phải sợ mày à”. H bị đau nên cũng vùng dậy và dùng tay tát vào mặt chị T bị ngã xuống giường. T vùng dậy vẫn ngồi đối diện với H trên giường và cả hai dùng tay cào, đánh nhau. Chị T đẩy H ngã khỏi giường và đập người vào tủ, T bỏ chạy ra cửa. H vừa chửi và đứng dậy đuổi theo T. Khi chị T chạy đến cửa phòng thì H đuổi kịp và dùng tay đánh vào vai chị T. T mở cửa phòng ngủ tiếp tục chạy ra đến phòng khách, mở cửa phòng và chạy đến hiên nhà thì H đuổi kịp. Khi chị T bước xuống bậc thứ hai thì H cũng chạy đến phía sau chị T. Lúc này chân phải ở trên thềm và chân trái ở bậc thứ hai. Tay phải H tóm vào cổ bên phải, tay trái tóm vào cổ bên trái chị T. H dùng cả hai tay bóp chặt vào cổ, vừa bóp vừa kéo sát cổ chị T vào người H, hai cánh tay ép vào phần vai chị T, đồng thời hạ thấp dần người ngồi xuống và ghì kéo cổ chị T ngồi xuống theo. Được khoảng 3-4 phút, thấy chị T không chống trả thì H buông tay đẩy chị T nằm sấp mặt xuống sân. Lúc này ông Hà Văn Đ - sinh năm 1962, là bố đẻ của H ngủ ở phòng bên cạnh nghe tiếng uỵch thì bật điện và mở cửa chạy ra thấy chị T đang nằm ở sân, đầu hướng phía cổng, chân hướng phia buống ngủ của ông Đều. Ông Đ lật ngửa người chị T lên, không thấy chị T cử động nên nói “Mày thấy hậu quả của mày chưa”. H bảo “Bố cứ kệ nó, nó giả vờ đấy, tại nó cào con trước đây này”. Ông Đ và H đưa chị T lên trên thềm và gọi ông Hà Văn L - sinh năm 1954 là anh trai của ông Đ sang cứu chữa. Khi ông L đến kiểm tra thì không đo được huyết áp nên gia đình đưa chị T đến trạm y tế xã cấp cứu thì chị T đã chết nhưng gia đình vẫn đưa chị T đến Trung tâm y tế huyện để cấp cứu.

Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Hà Văn H ngày 4/6/2019 xác định: Vũng mũi, mắt bên trái và môi trên có một diện xây sát da tụ máu nằm rải rác trên diện 6x5cm, trong đó có vết nằm ngang ở góc mũi kích thước 1x0,2cm, chiều hướng từ phải sang trái, vùng cánh mũi phải và môi trên có vết xây sát da kích thước 2x0,5cm chiều hướng từ trên xuống dưới; mắt bên trái sát vị trí khóe mắt có 1 vết xây sát da mài trượt kích thước 3x0,5cm chiều hướng từ trên xuống dưới; Vùng má bên trái có 2 vết xây sát da tụ máu; vùng cổ trái, vùng dưới cánh tay phải đều có vết xây sát da. Hà Văn H khai đây là những vết sứt sát khi hai vợ chồng đánh nhau và bị chị T cào. Vùng ngực phải có vết bầm tụ máu kích thước 2x1 cm là do H bị ngã va vào thành giường.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Phú Thọ đã trưng cầu giám định nguyên nhân chết, giám định mô bệnh học, hóa pháp đối với chị Hoàng Thị T. Tại Bản kết luận giám định mô bệnh học số 3118/C09-TT1, ngày 8/6/2019 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Nhu mô phổi xung huyết, xuất huyết mạnh, có các vùng nhu mô phổi xẹp, xen kẽ các vùng phế nang giãn rách vách thông nhau; Mô cơ tim xung huyết, xuất huyết rải rác, sợi cơ tim giãn đứt đoạn; Mô da tổn thương cơ học. Các tạng khác xung huyết mạnh, xuất huyết rải rác

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 155/PC09-PY, ngày 19/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: Nguyên nhân chết của chị Hoàng Thị T là do ngạt cơ học.

Ngày 24/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Phú Thọ đã tiến hành thực nghiệm điều tra để kiểm tra, xác minh tài liệu, tình tiết và tính khách quan của các lời khai bị can Hà Văn H và nhân chứng diễn lại hành vi, sự di chuyển đồng thời ghi âm, ghi hình, chụp ảnh vẽ sơ đồ và lập biên bản thực nghiệm điều tra.

Tại Cơ quan điều tra, Hà Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai phù hợp với lời khai của ông Hà Văn Đ, các dấu vết để lại tử thi, dấu vết trên mặt bị can và các tình tiết chứng cứ khác.

Vật chứng, tài sản thu giữ : 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, có số imei 1 là 865566044496010, số imei 2 là 865566044496002 kèm sim số 0969704643 của Hà Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, có số imei 1 là 865251032484597, số imei 2 là 865251032484589 sim số 0973461531 của Hoàng Thị T; 05 chiếc gối và 01 chiếc khăn xô.

Về trách Nệm dân sự: Bà Ngô Thị M - sinh năm 1958 là mẹ đẻ của chị Hoàng Thị T (bố T đã mất) yêu cầu H bồi thường số tiền 149.000.000 đồng là tiền tổn thất tinh thần và xử lý H theo quy định của pháp luật. Toàn bộ tiền mai táng phí là do gia đình ông Hà Văn Đ chi phí, không yêu cầu H phải trả. Đối với con gái của H là cháu Hà Hoàng Long N - sinh năm 2012 và cháu Hà Hoàng Linh Đ - sinh năm 2018, gia đình ông Hà Văn Đ nhận nuôi cho đến khi cháu trưởng thành.

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKS-P2 ngày 05/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố Hà Văn H về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ thực hiện quyền công tố đã luận tội và tranh luận, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn H đã phạm vào tội “Giết người”.

* Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng: Điểm n khoản 1 Điều 123; Điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn H từ 15 đến 16 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 05/7/2019.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Văn H.

* Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự ; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357, 584, 591 Bộ luật Dân sự.

- Về xử lý vậy chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy 05 gối; 01 khăn xô.

+ Trả lại cho bị cáo Hà Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, có số imei 1 là 865566044496010, số imei 2 là 865566044496002 kèm sim số 0969704643 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

+ Trả lại cho bà Ngô Thị M là đại diện hợp pháp của bị hại chị Hoàng Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, có số imei 1 là 865251032484597, số imei 2 là 865251032484589 sim số 0973461531.

(Tất cả các vật chứng nêu trên có tình trạng cụ thể như biên bản bàn giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 06/11/2019).

+ Tạm giữ của bị cáo số tiền 20.200.000đ (Hai mươi triệu hai trăm nghìn đồng)

- Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Hà Văn H phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất tinh thần cho bà Ngô Thị M và ông Hoàng Đình Ph là bố mẹ đẻ của bị hại chị Hoàng Thị T số tiền 74.500.000đ (Bảy mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng).

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hà Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.725.000đ (Ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.

Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm như sau: Nhất trí về tội danh mà Viện kiểm sát đề nghị.

Về khung hình phạt, điều luật áp dụng: Đề nghị xét xử bị cáo theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Đề nghị xử bị cáo khởi đểm khung hình phạt khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hà Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo cơ bản phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với thương tích trên người bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã xác định:

Khoảng 21 giờ ngày 02/6/2019, tại xóm Vùng, xã Võ M, huyện Thanh S, tỉnh P, chồng là Hà Văn H và vợ là chị Hoàng Thị T đang nằm nghỉ trên giường thì xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Chị T và Hà Văn H cào cấu, du đẩy và đánh nhau. Chị T mở cửa phòng chạy ra đến hiên nhà thì H đuổi kịp, tay phải H tóm vào cổ bên phải, tay trái tóm vào cổ bên trái chị T. Cả hai tay bóp chặt vào cổ, vừa bóp vừa kéo sát cổ chị T vào người H, hai cánh tay ép vào phần vai chị T, đồng thời hạ thấp dần người ngồi xuống và kéo cổ chị T ngồi xuống theo. Được khoảng 3-4 phút, thấy chị T không chống trả thì H buông tay đẩy chị T nằm sấp mặt xuống sân làm chị T bị tử vong. Còn H bị sứt sát vùng mặt, cổ chảy máu và bầm tụ máu ở ngực.

Mặc dù, H không có động cơ, mục đích giết vợ, tuy nhiên chỉ vì lý do nhỏ nhặt, hai vợ chồng cãi nhau, xảy ra xô sát mà H dùng tay bóp cổ cổ vợ dẫn đến chết, vì vậy H phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung là “Có tính chất côn đồ”.

Hành vi của Hà Văn H đã phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì lý do nhỏ nhặt, hai vợ chồng cãi nhau, xảy ra xô sát mà bị cáo dùng tay bóp cổ cổ vợ dẫn đến chết. Hành vi của bị cáo làm mất trật tự trị an xã hội đồng thời gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân đồng thời là hồi chuông cảnh báo về bạo lực gia đình ở một số địa phương trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm khắc để giáo dục bị cáo phải biết tuân thủ pháp luật và làm gương cho người khác.

Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có một mức án tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tự nguyện chi phí tiền mai táng phí cho người bị hại và nộp số tiền 20.200.000đ trước khi xét xử để bồi thường khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đại diện gia đình bị hại đề nghị bị cáo phải bồi thường tổn thất tinh thần số tiền là 149.000.000đ. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp cần chấp nhận nhưng số tiền trên được chia đều cho 04 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại là bà Ngô Thị M và ông Hoàng Đình Ph là bố mẹ đẻ của bị hại chị Hoàng Thị T; cháu Hà Hoàng Linh N và cháu Hà Hoàng Linh Đ là con đẻ của bị hại chị Hoàng Thị T. Kỷ phần mỗi người được hưởng 37.250.000đ (Ba mươi bảy triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Tại phiên tòa hôm nay, đai diện hợp pháp cho bị hại bà Ngô Thị M vẫn đề nghị bị cáo phải bồi thường cho bà Mỹ và ông Ph tiền tổn thất tinh thần. Ông Hà Văn Đ là người đại diện hợp pháp của cháu Hà Hoàng Linh N và cháu Hà Hoàng Linh Đ không đề nghị bị cáo phải bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu N và cháu Đ. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của ông Đ không trái với quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết. Do vậy, bị cáo H phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất tinh thần cho bà Ngô Thị M và ông Hoàng Đình Ph là bố mẹ đẻ của bị hại chị Hoàng Thị T số tiền 74.500.000đ (Bảy mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng) là phù hợp.

Đối với toàn bộ tiền mai táng phí cho chị Hoàng Thị T là do gia đình ông Hà Văn Đ chi phí. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay ông Hà Văn Đ tự nguyện không yêu cầu bị cáo H phải trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với con gái của H là cháu Hà Hoàng Long N, sinh năm 2012 và cháu Hà Hoàng Linh Đ, sinh năm 2018, gia đình ông Hà Văn Đ nhận nuôi cho đến khi cháu trưởng thành. Tại phiên tòa hôm nay, ông Hà Văn Đ không yêu cầu bị cáo H phải cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng cho đến khi cháu N, cháu Đ trưởng thành nên Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của ông Đều không trái với quy định của pháp luật nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị mức hình phạt nêu trên là tương đối phù hợp, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Luật sư bào chữa cho bị cáo H có quan điểm nhất trí về tội danh và về phần trách Nệm dân sự, không nhất trí về khung hình phạt và điều luật áp dụng mà Viện kiểm sát đề nghị. Đề nghị xét xử bị cáo theo theo khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định. Xét thấy đề nghị của Luật sư bào chữa là chưa đánh giá đúng về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một số vật chứng không còn giá trị sử dụng. Trả lại cho những vật chứng cho chủ sở hữu do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Tạm giữ số tiền bị cáo đã nộp trước

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; án phí dân sự trong vụ án hình sự và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các quyết định của cơ quan cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên; Kiểm sát viên thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo khách quan đúng quy định của pháp luật. Người bào chữa thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội: “Giết người”.

[2] Điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn H 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 05/7/2019.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Văn H.

[3] Về trách Nệm dân sự và xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự ; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357, 584, 591 Bộ luật Dân sự.

- Về xử lý vậy chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy 05 gối; 01 khăn xô.

+ Trả lại cho bị cáo Hà Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen, có số imei 1 là 865566044496010, số imei 2 là 865566044496002 kèm sim số 0969704643 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

+ Trả lại cho bà Ngô Thị M là đại diện hợp pháp của bị hại chị Hoàng Thị T 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, có số imei 1 là 865251032484597, số imei 2 là 865251032484589 sim số 0973461531.

(Tất cả các vật chứng nêu trên có tình trạng cụ thể như biên bản bàn giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 06/11/2019).

+ Tạm giữ của bị cáo số tiền 20.200.000đ (Hai mươi triệu hai trăm nghìn đồng)

- Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Hà Văn H phải có trách nhiệm bồi thường tổn thất tinh thần cho bà Ngô Thị M và ông Hoàng Đình Ph là bố mẹ đẻ của bị hại chị Hoàng Thị T số tiền 74.500.000đ (Bảy mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, đại diện cho người bị hại có đơn yêu cầu mà bị cáo vẫn chưa trả được số tiền trên thì còn phải chịu lãi đối với số tiền chưa trả được. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 luật thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hà Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.725.000đ (Ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự trong vụ án hình sự.

[5] Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, đại diện hợp pháp cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ