- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Huy T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| `TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2019/HS-ST Ngày: 28-11-2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Quý Bộ.
2. Ông Phạm Đức Lịch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2019/TLST-HS ngày 15/11/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xét số 62/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Huy T, sinh năm 1983 tại xã A, huyện H, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: thôn T, xã A, huyện H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy L và bà Nguyễn Thị C; vợ là chị Nguyễn Thị H1; Có 01 con; Tiền sự: Không.
Tiền án: Bản án số 107/2017/HSST ngày 28/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà xử phạt T 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Nhân thân: Ngày 19/7/2011 Chủ tịch UBND huyện H ra Quyết định số 5139 đưa T vào cai nghiện, chữa trị tại cơ sở chữa bệnh, thời hạn 24 tháng.
Bị tạm giam từ ngày 16/9/2019 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1964;
Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện H, Hải Dương.
- Anh Nguyễn Huy H2, sinh năm 1980;
Nơi cư trú: thôn V, xã A, huyện H, Hải Dương.
- Ông Tăng Bá K, sinh năm 1969;
Nơi cư trú: Thôn C 1, xã L, huyện H, Hải Dương.
* Người làm chứng:
- Bà Lê Thị T3, sinh năm 1950; nơi cư trú: Thôn C 1, xã L, huyện H, Hải Dương.
- Ông Nguyễn Huy H2, sinh năm 1955; nơi cư trú: Thôn C 1, xã L, huyện H, Hải Dương.
- Bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn C 1, xã L, huyện H, Hải Dương.
- Ông Tăng Văn Đ, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn C 1, xã L, huyện H, Hải Dương.
- Bà Phan Thị T4, sinh năm 1964; nơi cư trú: Thôn C 1, xã L, huyện H, Hải Dương.
(Người bị hại vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, những người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài, Nguyễn Huy T nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 8 giờ ngày 30/7/2019, T cầm 01 con dao bằng kim loại màu đen đi bộ sang bà Vũ Thị T1 ở cùng thôn. Thấy trong sân nhà bà T1 có dựng 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu ESPERO màu sơn đen, biển số 34MĐ1-313.71, xung quanh vắng người, cổng không khóa, T đi đến chỗ dựng xe rồi dùng dao phá ổ khóa điện nhưng không mở được. T dong xe máy điện này ra đường liên xã. Đến khoảng 9 giờ cùng ngày, T dong xe đến khu vực cổng nhà anh Nguyễn Huy Đ ở thôn V, xã A, thấy có dựng 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Anpha màu sơn xanh, biển số 34L3-6280 của anh Nguyễn Huy H2 không có người trông giữ, T đấu nối hai đoạn dây điện vào nhau và dùng chân giận cần khởi động nổ máy. T bê chiếc xe máy điện đặt lên yên xe máy rồi điều khiển xe đi thì gặp bà T1, bà T1 yêu cầu T trả lại xe máy điện. T trả lại xe máy điện cho bà T1 rồi tiếp tục điều khiển xe máy sang huyện A, thành phố P (không rõ địa chỉ cụ thể) bán xe máy cho một người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi được 1.000.000đ.
Khoảng 6 giờ ngày 27/8/2019, T đi bộ và cầm theo chiếc bấm móng tay, lưỡi bấm dài khoảng 5cm, đến chợ M ở xã L, huyện H, T phát hiện thấy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Dream màu nâu, biển số 34N3-6694 của ông Tăng Bá K dựng tại khu vực cổng chợ, T đi đến chỗ dựng xe rồi dùng lưỡi bấm móng tay cho vào ổ khóa, mở được khóa điện rồi điều khiển xe đi đến xã B, huyện A, thành phố P thì bị Công an xã kiểm tra hành chính và quản lý chiếc xe trên.
Kết luận định giá tài sản số 26 ngày 12/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thanh Hà kết luận: 01 xe máy điện nhãn hiệu ESPERO màu sơn đen, biển số 34MĐ1-313.71 trị giá 10.000.000 đồng; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Anpha màu sơn xanh, biển số 34L3-6280 trị giá 500.000đồng.
Kết luận định giá tài sản số 32 ngày 05/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thanh Hà kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu, biển số 34N3-6694 trị giá 7.600.000 đồng.
Bản cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 15/11/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Huy T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng đã mô tả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T từ 15-18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2019. Hình phạt bổ sung: không áp dụng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 8 giờ ngày 30/7/2019, tại gia đình bà Vũ Thị T1 ở thôn T, xã A, huyện H, Nguyễn Huy T đã lén lút chiếm đoạt 01 xe máy điện nhãn hiệu ESPERO màu sơn đen, biển số 34MĐ1-313.71 trị giá 10.000.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, tại khu vực cổng nhà anh Nguyễn Huy Đ ở thôn V, xã A, T đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Anpha màu sơn xanh, biển số 34L3-6280 của anh Nguyễn Huy H2 trị giá 500.000đồng. Khoảng 6 giờ ngày 27/8/2019, tại cổng chợ M ở xã L, huyện H. Nguyễn Huy T đã lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Dream màu nâu, biển số 34N3-6694 của ông Tăng Bá K, trị giá 7.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt trong vụ án này là 18.100.000đ.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý bất bình và lo lắng trong nhân dân. Bị cáo có nhân thấn xấu do đã bị kết án và bị xử lý hành chính, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
Về tình tiết tăng nặng: Tính đến ngày 30/7/2019, bị cáo chưa được xóa án tích đối với bản án hình sự sơ thẩm số 107/2017/HSST ngày 28/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà (xử phạt T 13 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy), mà lại tiếp tục phạm tội, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, trong vụ án này, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, trong đó hành vi thực hiện vào ngày 27/8/2019 và ngày 30/7/2019 đều cấu thành tội trộm cắp tài sản nên bị cáo còn phải chịu tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường cho anh Hùng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của anh Hùng, bị hại là anh Hùng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho bà Vũ Thị T1 chiếc xe máy điện, trả cho ông Tăng Bá K chiếc xe máy Dream màu nâu mà bị cáo T trộm cắp. Riêng xe máy Honda Wave Anpha của anh Hùng không thu hồi được nhưng gia đình bị cáo đã bồi thường xong cho anh Hùng. Bà T1, ông Khinh và anh Hùng không yêu cầu bồi thường dân sự nên không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Xét con dao bằng kim loại màu đen là công cụ phạm tội của bị cáo, giá trị sử dụng không đáng kể nên cho tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/9/2019.
3. Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy con dao bằng kim loại màu đen.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Huy T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ. N¬i nhËn:
T.m Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
- VKSND huyÖn Thanh Hà;
| - C«ng an huyÖn Thanh Hà; - Chi côc THADS huyÖn Thanh Hà; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hå s¬ vô ¸n. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Thị Nhung |