vanban.org

Bản án 62/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 17/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lộ Phú Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lộ Phú Q 30 (ba mươi) tháng t , th i hạn t tính t ngày bắt tạm giam ngày 26/10/2018. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lộ Phú Q phạm tội “Cướp giật tài sản” - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lộ Phú Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2019/HS-ST
Ngày: 17-5-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thọ

2. Bà Đinh Thị Phúc

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2019 và Thông báo mở lại phiên tòa số 48/2019/TB-HS ngày 04/5/2019 đối với bị cáo:

Lộ Phú Q, sinh năm 1991; nơi sinh: Ninh Thuận; nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Bà la môn; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lộ Phú Bổn, con bà: Dương Thị Kim Kia; Gia đình có 05 anh em, lớn nhất bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2009; V , con: chưa; Tiền án:

Bản án số 74/2009/HSST ngày 28/12/2009 của Tòa án nhân dân thành phố P, Ninh Thuận áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202 điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 47, Điều 68, Điều 69 BLHS 1999 xử phạt Lộ Phú Q 18 tháng t th i hạn tính t bắt giam thi hành án. Buộc Lộ Phú Q phải bồi thư ng cho bị hại bà B i Thị T 10.000.000đ, Lộ Phú Q phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

Bản án số: 22/2010/HSST ngày 10/5/2010 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận áp dụng điểm d khoản 2 Điều 136, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, điểm n khoản 1 Điều 48 BLHS xử phạt Lộ Phú Q 36 tháng t về tội cướp giật tài sản th i hạn t tính t ngày 23/12/2009. Lộ Phú Q có trách nhiệm bồi thư ng cho chị Dương Thị N số tiền 2.794.250 và 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bản án số 90/2015, ngày 15/9/2015, của Tòa án nhân dân thành phố P, Ninh Thuận áp dụng điểm a khoản 2 Điều 202 điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS xử phạt Lộ Phú Q 03 năm t th i hạn tính t ngày 31/7/2015. Ghi nhận sự thỏa thuận gi Lộ Phú Q và đại diện h p pháp của cháu Hán Quảng Anh K, Lộ Phú Q bồi thư ng cho bà Hán Quảng Thanh T số tiền 82.150.000đ. Theo biên bản xác minh ngày 18/12/2018 Lộ Phú Q chưa bồi thư ng số tiền trên theo quyết định thi hành án số 1423 ngày 11/7/2017 của chi cụ thi ành án thành phố P, Ninh Thuận.

Bị cáo bị bắt gi , tạm giam vào ngày 26/10/2018, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm gi Công an huyện Đ. Có mặt

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Lưu L, sinh năm 1994

Địa chỉ: 05/6 P, H, Đ, Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 gi ngày 26/10/2018, Lộ Phú Q, sinh năm 1991, hộ khẩu thư ng trú tại: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận đi bộ một mình theo hướng t sân bay L, thị trấn L đến xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng 20 gi c ng ngày 26/10/2018, Lộ Phú Q đi ngang qua nhà Nguyễn Thị Lưu L sinh năm 1994, hộ khẩu thư ng trú số nhà 5/6, thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng phát hiện Nguyễn Thị Lưu L đang cầm điện thoại trên tay đứng trước cổng nhà. Lộ Phú Q đến gần giả v hỏi đư ng sau đó bất ng giật điện thoại Iphone 6sPlus trên tay Nguyễn Thị Lưu L rồi bỏ chạy về hướng thị trấn L. Sau khi bị mất tài sản Nguyễn Thị Lưu L hô cướp và c ng ngư i dân đuổi bắt đư c Lộ Phú Q c ng tang vật trên đư ng Lý Nam Đế, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giao cho cơ quan chức năng xử lý theo thẩm quyền.

Theo kết luận định giá số: 105/KL–HĐĐG ngày 05/11/2018, điện thoại di động Iphone 6s plus 64G có giá trị 9.000.000đ.

Vật chứng thu gi trong vụ án vụ án: Một điện thoại di động hiệu Iphone 6splus màu hồng 64G cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bị hại, Nguyễn Thị Lưu L không có ý kiến gì.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Lưu L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.

Trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đư c áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự.

Tại bản cáo trạng số 07/CT - VKS ngày 13 tháng 02 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ để xét xử bị cáo: Lộ Phú Q về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố vẫn gi nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo Lộ Phú Q về tội “Cướp giật tài sản”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 xử phạt bị cáo Lộ Phú Q t 02 đến 03 năm t .

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của nh ng ngư i tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, nh ng ngư i tiến hành tố tụng thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lộ Phú Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, l i khai của bị cáo ph h p với l i khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, l i khai của ngư i làm chứng và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Để có tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng 19 gi ngày 26/10/2018, bị cáo đi bộ một mình theo hướng t sân bay L, thị trấn L đến xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng 20 gi c ng ngày, bị cáo đi ngang qua nhà Nguyễn Thị Lưu L phát hiện chị L đang cầm điện thoại trên tay đứng trước cổng nhà, bị cáo nảy sinh ý định cướp giật tài sản nên bị cáo đến gần giả v hỏi đư ng sau đó bất ng giật điện thoại Iphone 6s Plus trên tay chị L rồi chạy bỏ về hướng thị trấn Liên Nghĩa. Sau khi bị mất tài sản chị L hô cướp và c ng ngư i dân đuổi bắt đư c bị cáo c ng tang vật trên đư ng Lý Nam Đế, thị trấn Liên Nghĩa, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng giao cho cơ quan chức năng xử lý theo thẩm quyền. Theo kết luận định giá số: 105/KL–HĐĐG ngày 05/11/2018, điện thoại di động Iphone 6s plus 64G có giá trị 9.000.000đ. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức rõ tài sản của công dân đư c pháp luật bảo vệ, cấm mọi hành vi xâm phạm tài sản bất h p pháp nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã hành vi cướp giật chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus có giá trị 9.000.000đ rồi nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở h u tài sản của công dân đư c pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 là đúng pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần có một bản án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới thoả đáng.

Về nhân thân: Bị cáo là ngư i là ngư i có nhân thân xấu, đã t ng bị Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 36 tháng t về tội “Cướp giật tài sản” và 02 lần bị bị xử về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiền giao thông đư ng bộ” bị cáo chưa chấp hành xong các bản án. Bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội thể hiện sự xem thư ng pháp luật, không có sự ăn năn hối cải nên cần xử lý nghiêm. Đồng th i áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự tăng nặng trách nhiệm hình sự trong trư ng h p tái phạm.

Về trách nhiệm dân sự: Ngư i bị hại có đơn xin vắng mặt và không có yêu cầu bồi thư ng gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

T nh ng phân tích nhận định trên, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một th i gian để bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình và mang tính răn đe, giáo dục phòng ng a chung, đồng th i thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở h u theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố bị cáo Lộ Phú Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Bị cáo Lộ Phú Q 30 (ba mươi) tháng t , th i hạn t tính t ngày bắt tạm giam ngày 26/10/2018.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Lộ Phú Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo, riêng bị hại có quyền làm đơn kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể t ngày nhận đư c bản sao bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ