vanban.org

Bản án 62/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 27/08/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/08/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 09/4/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Kim C - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2019/HS-PT
Ngày 27 - 8 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Anh Tuấn

Bà Trần Ngọc Như

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tuấn Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Quan Tuấn Nghĩa, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 56/2019/TLPT-HS ngày 30 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Kim C, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2019/HS-ST ngày 17 tháng 6 năm 2019 của Tòa án Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Kim C, sinh năm 1986 tại thành phố M, tỉnh Cà Mau. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm X, Phường Y, thành phố M, tỉnh Cà Mau. Chỗ ở hiện nay: Khóm I, Phường I, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): Biết đọc, biết viết; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha là Nguyễn Văn H (Chết) và mẹ là Nguyễn Tuyết M, sinh năm 1964; có chồng tên Phạm Văn H, sinh năm 1975 (đã ly hôn); có 02 người con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2008; tiền án: không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2019 đến nay, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân bị nghiện ma túy nên vào ngày 08/4/2019, bị cáo Nguyễn Kim C mua ma túy của người tên ông H (bị cáo C không biết họ tên và địa chỉ) với số tiền 300.000 đồng, ma túy bỏ trong bọc nylon màu trắng được hàn kín hai đầu để sử dụng. Khoảng 09 giờ, ngày 09/4/2019, sau khi đã sử dụng ma túy, bị cáo C điều khiển xe biển kiểm soát 69 AA - 039.52 từ phòng trọ tại thị xã N về Cà Mau, khi đi bị cáo C mang theo 01 gói ma túy đã mua của ông H trước đó, được gói trong tờ tiền 1000 đồng cất trong túi áo khoác đang mặc mục đích khi có nhu cầu thì sử dụng, trên đường đi do bị ảnh hưởng của ma túy nên đến đoạn đường trước nhà anh Trần Văn N tại ấp L, xã A, huyện D, tỉnh Bạc Liêu bị cáo C dừng xe lại đứng gần cửa nhà sau của anh Nhuận, thấy bị cáo Chi có biểu hiện không bình thường nên anh Nhuận điện thoại trình báo sự việc đến Công an xã A. Sau khi nhận tin báo của anh N, Công an xã A, báo tin đến Công an huyện D và tiến hành mời bị cáo C về trụ sở làm việc. Trong lúc, đang xác minh về nhân thân, địa chỉ thì bị cáo C tay trái lấy từ trong túi áo khoác đang mặc ra cầm trên tay 01 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 1000 đồng có số sê ri LM 4521051 được xếp nhỏ lại bên trong có một gói nylon màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có nhiều tinh thể màu trắng (nghi là ma túy đá) nên Công an huyện D tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.

Tại bản kết luận giám định số: 32/KLGĐ-PC09 ngày 13/4/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu kết luận: Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể bên trong bịch nylon (kí hiệu M) là chất ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng là 0,2167 gam.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2019/HSST ngày 17/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bạc Liêu quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 09/4/2019.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 01/7/2019 bị cáo Nguyễn Kim C kháng cáo yêu cầu được giảm án. Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên đơn kháng cáo, hiện gia đình bị cáo đang gặp khó khăn, con bị cáo còn nhỏ, mẹ lớn tuổi nên yêu cầu được giảm án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm: Về hình thức: Xét đơn kháng cáo của bị cáo còn trong thời hạn luật định nên cấp phúc thẩm chấp nhận và đưa ra xét xử là hợp lệ. Về nội dung: Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, nội dung kháng cáo và sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm án của bị cáo và giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 08/2019/HSST ngày 17/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bạc Liêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Kim C xác định, Tòa án nhân dân huyện D xử phạt bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng, vì bị cáo có cất giấu gói ma túy đá trong người để sử dụng thì bị bắt quả tang. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do bị nghiện ma túy, nên bị cáo C có hành vi cất trong túi áo khoác đang mặc một gói nylon màu trắng được hàn kín hai đầu bên trong có nhiều tinh thể màu trắng nằm trong tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 1000 đồng có số sê ri LM 4521051 được xếp nhỏ lại, vào khoảng 09 giờ ngày 09/4/2019, bị cáo đem gói ma túy đi từ thị xã N, tỉnh Sóc Trăng về Cà Mau, khi đến khu vực ấp N, xã A, huyện D, tỉnh Bạc Liêu thì bị Công an huyện D bắt quả tang lúc 17 giờ. Qua giám định chất tinh thể màu trắng trong gói nylon được hàn kín hai đầu là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,2167gam.

[2] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, qua giám định có khối lượng 0,2167gam, loại Methamphetamine do bị cáo thực hiện nêu trên có đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo yêu cầu được giảm án của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây tác hại xấu đến mọi mặt của đời sống xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, nên cần xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung. Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù từ 01 đến 05 năm, khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Bản án sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là phù hợp không nặng như bị cáo trình bày. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không cung cấp chứng cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới so với án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo yêu cầu giảm án của bị cáo mà có căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu là giữ nguyên án sơ thẩm.

[4] Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2019/HS-ST ngày 17/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bạc Liêu không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo yêu cầu giảm án của bị cáo và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2019/HS-ST ngày 17/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bạc Liêu.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 09/4/2019.

5. Về Án phí: Áp dụng các điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Kim C phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

6. Các phần Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 08/2019/HS-ST ngày 17/6/2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bạc Liêu không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ