vanban.org

Bản án 62/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị E. Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc B và anh Nguyễn Văn L trả cho chị Nguyễn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Chị Nguyễn Thị E yêu cầu vợ chồng anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Ngọc B trả số tiền vay 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng, không yêu cầu…"
  • Tòa quyết gì? miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2019/DS-ST
Ngày 29 - 10 - 2019
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Vân.

Bà Nguyễn Thị Ngọc Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu

Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 213/2019/TLST-

DS ngày 25 tháng 6 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2019/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2019

giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị E, sinh năm 1981; cư trú tại tổ 7, ấp H, xã

T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn:

1. Chị Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1982; cư trú tại tổ 20, ấp N, xã G,

huyện C, tỉnh Tây Ninh.

2. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1980; cư trú tại tổ 20, ấp N, xã G, huyện

C, tỉnh Tây Ninh.

Chị Nguyễn Thị Ngọc B là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Nguyễn Văn L (văn bản ủy quyền ngày 30/9/2019).

Chị E, chị B có mặt; anh L vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/6/2019 và lời khai có trong hồ sơ vụ án,

tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị E trình bày:

Chị và chị B có mối quan hệ quen biết. Chị cho chị B vay số tiền

70.000.000 đồng vào ngày 16/5/2019 (âm lịch), chị B có làm giấy vay. Khi cho vay, chị B hứa trả lãi 40.000 đóng một tháng, lãi tính như thế nào chị không biết. Chị B chưa trả nợ gốc và lãi cho chị. Khi chị cho vay, trong giấy nợ không ghi mục đích vay, chị B tự nói là để mua đất ruộng. Do anh L không biết chữ nên chị B nói không cho anh L ký tên, mọi chuyện trong nhà do chị B lo nên khi chị cho vay anh L không biết. Chị B vay tiền chị được mấy ngày, chị nghe vỡ nợ nên đến nhà chị B đòi, khi đó anh L mới biết, chị B không có nhà nhưng chị B không trả cho chị. Chị yêu cầu vợ chồng anh L và chị B trả số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi.

Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Ngọc

B trình bày:

Chị và chị E có mối quan hệ quen biết. Chị có vay của chị E 70.000.000

đồng, chị không nhớ rõ ngày vay, chị có làm giấy vay nợ ngày 16/5/2019 âm lịch (bản gốc). Chị vay của chị E với lãi suất 4%/tháng. Chị chưa đóng lãi cho chị E. Chị vay tiền của chị E để trả nợ cho nhiều người, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Khi vay mượn nợ chồng chị (anh L) không biết. Sau khi chị bị vỡ nợ, chồng chị mới biết chị nợ chị E. Việc chi tiêu trong gia đình do chị quản lý, chi tiêu. Chị không sử dụng tiền vay vào mục đích bất hợp pháp. Chị E đến nhà đòi nợ nhưng chỉ có chồng chị ở nhà, chị không có nhà do làm thủ tục đi Malaysia và chị cũng không có khả năng trả nợ cho chị E. Do thiếu nợ nhiều người, không có khả năng trả hết nợ vay nên chị tuyên bố vỡ nợ, hứa đi Malaysia tìm việc làm trả nợ nhưng chưa tìm được việc làm thì phải về Việt Nam do Tòa án triệu tập giải quyết vụ án. Chị E yêu cầu vợ chồng chị trả số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi, chị đồng ý vợ chồng chị trả số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng, đồng ý không tính lãi nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 (năm triệu) đồng.

Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Ngọc

B là đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn L trình bày:

Anh L không biết việc vay giữa chị và chị E. Đến khi vỡ nợ, anh L mới biết.

Anh L không biết chị B sử dụng tiền vay vào việc gì do mọi chi tiêu trong gia đình

do chị B quản lý. Chị E yêu cầu vợ chồng chị trả số tiền 70.000.000 (bảy mươi

triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi, anh L cũng đồng ý vợ chồng trả số tiền

70.000.000 đồng (bảy mươi triệu) đồng, đồng ý không tính lãi nhưng do hoàn cảnh

khó khăn nên xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 (năm triệu) đồng.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh

Tây Ninh trình bày:

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng dân

sự, không có vi phạm. Đương sự trong vụ án chấp hành đúng quy định của pháp

luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận,

buộc vợ chồng anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Ngọc B trả số tiền

70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng cho chị Nguyễn Thị E, ghi nhận không tính lãi;

không chấp nhận yêu cầu trả dần của anh Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Ngọc

B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện

kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị E

khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh L và chị B trả số tiền vay

70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng, không yêu cầu tính lãi; bị đơn cư trú tại huyện

Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản và thuộc

thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh

theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật

Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào một giấy vay nợ

ngày 16/5/2019 (âm lịch) (bút lục 32), một giấy vay nợ ngày 16/5/2019 (âm

lịch) (bút lục 38) và lời trình bày của các đương sự thấy rằng: Ngày 16/5/2019

(âm lịch) chị E cho chị B vay số tiền 70.000.000 đồng, chị B có làm biên nhận.

Đến nay, chị B vẫn chưa trả số tiền này. Biên nhận nợ không thể hiện mục đích

vay và chồng chị B là anh L không biết việc vay nợ nhưng qua lời trình bày của

chị B và anh L thì mục đích vay để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Biên nhận nợ thể hiện có lãi nhưng không có thời hạn vay nên đây là hợp đồng vay không có kỳ hạn và có lãi; các bên giao kết hợp đồng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, chị B không trả nợ vay dù chị E đã đòi là vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay; mặt khác, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị E, chị B và anh L cùng thống nhất số tiền chị B và anh L còn nợ chị E là 70.000.000 đồng; chị B và anh L đồng ý trả cho chị E số tiền nợ vay này. Do đó, căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự, Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị E, chị B và anh L có nghĩa vụ trả cho chị E số tiền vay 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng là phù hợp.

Về tiền lãi: Chị Nguyễn Thị E không yêu cầu chị B và anh L trả tiền

lãi nên ghi nhận.

Về yêu cầu trả dần của bị đơn: Bị đơn trình bày do hoàn cảnh gia đình

khó khăn nên yêu cầu được trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu trả dần của bị đơn không được chị E chấp nhận và không phù hợp Điều 466 Bộ luật Dân sự nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu trả dần của bị đơn.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự;

Áp dụng Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu,

miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị E.

Buộc chị Nguyễn Thị Ngọc B và anh Nguyễn Văn L trả cho chị Nguyễn

Thị E 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng tiền nợ vay. Ghi nhận chị Nguyễn Thị E không yêu cầu tính lãi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan

thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn

yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả

cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án

còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất

quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Chị Nguyễn Thị Ngọc B và anh Nguyễn Văn L phải chịu tiền án phí dân

sự sơ thẩm là 3.500.000 (ba triệu năm trăm nghìn) đồng.

Chị Nguyễn Thị E được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 1.750.000 (một

triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu số 0019977 ngày

25/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên

án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có

quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành

án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật

Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ