- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — ". Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với ông Trần Văn V."
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự
- Căn cứ chính? Điều 463 Bộ luật Dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:62/2019/DS- ST Ngày 24 - 10 - 2019 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU- THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Ba
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Huỳnh Thanh Trà
2. Ông Nguyễn Văn Sanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 24 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tiến hành công khai xét xử vụ án dân sự thụ lý số 73/2019/TLST-DS ngày 02/5/2019 về “ Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2019/QĐST - DS ngày 12/09/2019 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V
Trụ sở: Số 89 đường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thành R – Sinh năm: 1994 - Trú tại: Số 112 đường P, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng – Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ VPBank. Theo Văn bản ủy quyền số 281/2019/UQ – VPB - TDTD năm 2019. Có mặt.
* Bị đơn: Ông Trần Văn V – Sinh năm 1990 – Nơi ĐKHKTT: Tổ 12, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng – Hiện ở tại: Số 56/15 đường L, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/02/2019, bản tự khai và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thành R trình bày:
Vào ngày 22/09/2016, ông Trần Văn V có giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn với Ngân hàng TMCP V để cho ông Trần Văn V vay với số tiền tối đa là 200.000.000đ ( Hai trăm triệu đồng) với lãi suất tối đa là 28%/năm, thời hạn vay tối đa là 18 tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, kỳ trả nợ gốc và lãi tối thiểu 1 lần/tháng, mức lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh 3 tháng/01 lần. Căn cứ vào hợp đồng trên vào ngày 27/09/2016 ông Trần Văn Việt đã vay số tiền là 138.000.000đ ( Một trăm ba mươi tám triệu đồng), thời hạn vay là 48 tháng bắt đầu từ ngày 27/10/2016 cho đến ngày 27/09/2020, lãi suất trong hạn là 30%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Trong quá trình thực hiện vay vốn ông V đã trả được cả gốc và lãi với số tiền là 32.873.286đ, sau đó ông V không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng, nên toàn bộ số nợ trong hạn chuyển sang quá hạn.
Tính đến ngày 24/10/2019 ông Trần Văn V còn nợ số tiền là 284.793.265đ ( Hai trăm tám mươi tư triệu bảy trăm chín mươi ba ngàn hai trăm sáu mươi lăm đồng y) trong đó tiền gốc quá hạn là 128.846.686 và tiền lãi phát sinh là 155.946.579 gồm lãi trong hạn 3.209.055đ và lãi quá hạn là 152.737.524đ.
Ngân hàng nhiều lần yêu cầu ông V phải thanh toán hết khoản nợ cho ngân hàng nhưng ông V vẫn cố tình dây dưa không trả nợ, nên Ngân hàng khởi kiện ông V tại Tòa án và đề nghị Tòa án buộc ông V phải trả cho Ngân hàng số tiền là 284.793.265đ ( Hai trăm tám mươi tư triệu bảy trăm chín mươi ba ngàn hai trăm sáu mươi lăm đồng y) trong đó tiền gốc quá hạn là 128.846.686 và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 24/10/2019 là 155.946.579 gồm lãi trong hạn 3.209.055đ và lãi quá hạn là 152.737.524đ.
Lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 25/10/2019 cho đến khi ông Trần Văn V thanh toán hết khoản nợ theo hợp đồng mà các bên đã ký ngày 22/09/2016.
Tại bản khai ngày 14/7/2019 ông Trần Văn V trình bày
Ông Trần Văn V thừa nhận vào ngày 22/09/2016, ông có giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn với Ngân hàng TMCP V để cho ông vay với số tiền tối đa là 200.000.000đ ( Hai trăm triệu đồng) với lãi suất tối đa là 28%/năm, thời hạn vay tối đa là 18 tháng, mục đích vay tiêu dùng cá nhân, kỳ trả nợ gốc và lãi tối thiểu 1 lần/tháng, mức lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh 3 tháng/01 lần. Trên cơ sở đó vào ngày 27/09/2016 ông đã vay số tiền là 138.000.000đ ( Một trăm ba mươi tám triệu đồng), thời hạn vay là 48 tháng bắt đầu từ ngày 27/10/2016 cho đến ngày 27/09/2020, lãi suất trong hạn là 30%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Ông đã trả được cả gốc và lãi với số tiền là 32.873.286đ, tính đến ngày 26/12/2018 ông còn nợ số tiền là 233.320.872đ ( Hai trăm ba mươi ba triệu ba trăm hai mươi ngàn tám trăm bảy mươi hai đồng y) trong đó tiền gốc là 133.346.686đ và tiền lãi phát sinh là 99.974.186. Nhưng hiện nay ông khó khăn về tài chính nên ông xin trả 10.000.000đ cho đến khi hết nợ.
Tại phiên tòa lần thứ hai ông Trần Văn V vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa và những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, và quyết định hoãn phiên tòa cho ông Trần Văn V nhưng ông V vẫn vắng mặt không lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Văn V.
Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu buộc ông Trần Văn V phải thanh toán số tiền còn nợ là 284.793.265đ ( Hai trăm tám mươi tư triệu bảy trăm chín mươi ba ngàn hai trăm sáu mươi lăm đồng y) trong đó tiền gốc quá hạn là 128.846.686 và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 24/10/2019 là 155.946.579 gồm lãi trong hạn 3.209.055đ và lãi quá hạn là 152.737.524đ và lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 25/10/2019 cho đến khi ông Trần Văn V thanh toán hết khoản nợ theo hợp đồng mà các bên đã ký ngày 22/09/2016 của Ngân hàng TMCP V thì thấy:
Vào ngày 22/09/2016, ông Trần Văn V có giấy đăng ký mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ, dịch vụ ngân hàng điện tử và vay vốn với Ngân hàng TMCP V, trên cơ sở đó ngày 27/09/2016 ông Trần Văn V đã vay số tiền là 138.000.000đ ( Một trăm ba mươi tám triệu đồng), thời hạn vay là 48 tháng bắt đầu từ ngày 27/10/2016 cho đến ngày 27/09/2020, lãi suất trong hạn là 30%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Xét trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Trần Văn V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, chỉ trả được số tiền là 32.873.286đ, do vậy ông Trần Văn V còn nợ lại số tiền là 284.793.265đ ( Hai trăm tám mươi tư triệu bảy trăm chín mươi ba ngàn hai trăm sáu mươi lăm đồng y) trong đó tiền gốc quá hạn là 128.846.686 và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 24/10/2019 là 155.946.579 gồm lãi trong hạn 3.209.055đ và lãi quá hạn là 152.737.524đ.
Nên, Ngân hàng không có nghĩa vụ phải chứng minh các tình tiết, sự kiện mà Ngân hàng đã đưa ra cho yêu cầu khởi kiện buộc ông Trần Văn V phải thanh toán số nợ trên theo quy định Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP V buộc ông Trần Văn V phải trả số tiền nợ là 284.793.265đ ( Hai trăm tám mươi tư triệu bảy trăm chín mươi ba ngàn hai trăm sáu mươi lăm đồng y) trong đó tiền gốc quá hạn là 128.846.686 và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 24/10/2019 là 155.946.579 gồm lãi trong hạn 3.209.055đ và lãi quá hạn là 152.737.524đ là có cơ sở được quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự và khoản 2 Điều 91 Luật tín dụng.
Lãi tiếp tục được tính ký kể từ ngày 25/10/2019 cho đến khi ông Trần Văn V thanh toán hết khoản nợ theo hợp đồng ngày 22/09/2016 mà các bên đã ký.
Theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn là ông Trần Văn V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
Vì các lẽ trên quyết định.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng các Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự.
- Áp dụng khoản 2 Điều 91 Luật tín dụng
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự
- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với ông Trần Văn V.
Buộc ông Trần Văn V phải trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền 284.793.265đ ( Hai trăm tám mươi tư triệu bảy trăm chín mươi ba ngàn hai trăm sáu mươi lăm đồng y) trong đó tiền gốc quá hạn là 128.846.686 và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 24/10/2019 là 155.946.579 gồm lãi trong hạn 3.209.055đ và lãi quá hạn là 152.737.524đ.
Lãi tiếp tục được tính ký kể từ ngày 25/10/2019 cho đến khi ông Trần Văn V thanh toán hết khoản nợ theo hợp đồng ngày 22/09/2016 mà các bên đã ký.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn V phải chịu là 14.239.663đ ( Mười bốn triệu hai trăm ba mươi chín ngàn sáu trăm sáu mươi ba đồng y)
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.666.044đ theo biên lai số 0007028 ngày 25/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu- TP Đà Nẵng.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được hoặc niêm yết trích sao bản án
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Hải Châu; - Chi cục THADS quận Hải Châu; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Thị Thu Ba |