vanban.org

Bản án 62/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Xuân, TP. Hà Nội Tuyên án 24/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2/ Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm h, s khoản 1 Điều 51BLHS; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lê V: 09 tháng tù giam.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lê V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

QUẬN THANH XUÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
------------------------
Bản án số: 62/2018/HSST
Ngày: 24/5/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:

Ông Bùi Văn Hoan

Các hội thẩm:

Bà Chu Thị Tuyết

Bà Nguyễn Thị Hồng

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Hằng Nga - Cán bộ Tòa án nhân dân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Lan - KSV

Ngày 24 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Xuân xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 52/2018/HSST ngày 10/4/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: NGUYỄN LÊ V - Sinh năm: 1983 HKTT và chỗ ở: Số 41 ngõ 12/14 Nguyễn Văn Trỗi, phường P, quận T, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Không;

Trình độ văn hóa: 12/12 Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không Con ông: Nguyễn Phúc T, sinh năm 1948, Con bà: Lê Thị Thanh H, sinh năm 1952. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con út. Vợ, con: Không *Tiền án, tiền sự: Không *Nhân thân:

- Ngày 29/08/2000 TAND quận Đống Đa, HN xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 20 tháng về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

- Ngày 26/03/2003 TAND huyện Thanh Trì, HN xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 25/10/2011 TAND quận Hai Bà Trưng, HN xử phạt 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Ngày 15/07/2014 TAND quận Hoàn Kiếm xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 17/10/2015.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13/01/2018; Hủy bỏ tạm giữ ngày 22/01/2018. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. * Người bị hại: Cháu Đỗ Thị Hải Y, sinh ngày 08/01/2001. * Đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Đỗ Ngọc A (là bố cháu A) Cùng trú tại: Số 155 Nguyễn Ngọc Nại, quận T, Hà Nội.

(Tại phiên toà: Bị cáo có mặt, người bị hại vắng mặt).

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 14h ngày 13/01/2018 Nguyễn Lê V đi bộ lang thang trên các tuyến phố thuộc quận Thanh Xuân với mục đích trộm cắp tài sản. Đến khoảng 17h30’ cùng ngày V phát hiện thấy 01 chiếc xe máy điện nhãn hiệu Momentium màu đen không biển kiểm soát, SK: 29MD180031, SM: 1509CL56079 (có BKS 29MĐ1-80031 để trong cốp xe) của cháu Đỗ Thị Hải Yến dựng trên vỉa hè trước cửa tạp hóa số 18 Lê Trọng Tấn, Phường K, quận T, Hà Nội không khóa cổ, khóa càng, V đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe máy điện trên. V đi vào cửa hàng tạp hóa giả làm khách mua hàng rồi đi ra dùng một chiếc chìa khóa xe máy nhãn hiệu Honda để trong túi áo (được chuẩn bị từ trước) cắm vào ổ khóa điện của xe máy điện và dắt xe xuống lòng đường Lê Trọng Tấn, sau đó V ngồi lên yên xe dùng hai chân đẩy xe đi về hướng đường Nguyễn Viết Xuân được khoảng 01 mét thì bị chị Yến phát hiện đuổi theo giữ được đuôi xe và hô hoán. Thấy thế V vứt lại xe và bỏ chạy đến trước số nhà 54 Lê Trọng Tấn, Phường K, quận T thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ và báo Công an phường Phường K xử lý.

- Công an thu giữ của Nguyễn Lê V:

+ 01 chiếc xe máy điện màu đen nhãn hiệu Momentium, SK: 29MD180031, SM: 1509CL56079; 01 BKS: 29MĐ1-80031.

+ 01 chìa khóa dạng khóa xe máy hiệu Honda.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Lê V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 175/KLĐG ngày 22/01/2018 của HĐĐGTSTTTHS-UBND quận Thanh Xuân kết luận: 01 xe máy điện màu đen nhãn hiệu Momentium, BKS: 29MĐ1-80031, SK: 29MD180031, SM: 1509CL56079, trị giá 5.000.000đồng. Cơ quan CSĐT - Công an quận Thanh Xuân đã trao trả chiếc xe máy điện trên cho chị Đỗ Thị Hải Yến, chị Yến đã nhận lại tài sản hiện không có yêu cầu gì.

Cáo trạng số: 52/CT-VKSTX ngày 06/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố Nguyễn Lê V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Bị cáo Nguyễn Lê V khai nhận hành vi phạm tội như trên và đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh gia đình để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên cáo trạng và quyết định đã truy tố, sau khi đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và đề nghị HĐXX:

Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm h, s, khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt Nguyễn Lê V từ 09 đến 12 tháng tù.

Bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 BLHS.

Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa dạng khóa xe máy hiệu Honda

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Xuân; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật.

[2]. Hành vi của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay; lời khai của người bị hại, những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu giữ trong quá trình điều tra được lưu trong hồ sơ vụ án, thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17h30 ngày 13/01/2018 Nguyễn Lê V có hành vi trộm cắp 01 xe máy điện màu đen nhãn hiệu Momentium. Trị giá tài sản trộm cắp là: 5.000.000đồng của chị Đỗ Thị Hải Yến tại vỉa hè trước cửa hàng tạp hóa số 48 Lê Trọng Tấn, Phường K, quận T, Hà Nội. Hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Lê V thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn xâm hại đến trật tự công cộng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng do bản chất lười lao động, muốn có tiền ăn chơi hưởng thụ nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, vì vậy cần phải xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo có không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS; đó là thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân và phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại.

Về nhân thân: Bị cáo có 04 tiền án đã được xóa nên được coi là người có nhân thân xấu.

Căn cứ vào quy định của BLHS; tính chất mức độ hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi môi trường xã hội một thời gian, để có tác dụng răn đe giáo dục cải tạo bị cáo, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và đáp ứng được công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo; như vậy vừa có tác dụng răn đe giáo dục vừa thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Việt Nam.

Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh khó khăn, công ăn việc làm không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với 01 chìa khóa hiệu Honda là công cụ phạm tội, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai đã cũ và không còn giá trị sử dụng nên HĐXX quyết định tịch thu tiêu hủy .

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản trộm cắp đã được thu hồi và trả người bị hại, người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị Quyết 326/30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và danh mục mức án phí lệ phí Tòa án ban hành kèm theo. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2/ Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS; điểm h, s khoản 1 Điều 51BLHS;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lê V: 09 tháng tù giam.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thụ hình (được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 13/01/2018 đến ngày 22/01/2018).

3/ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS;

Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa dạng khóa xe máy hiệu Honda

(Chi tiết theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 17/5/2018 giữa Công an quận Thanh Xuân với Chi cục THA quận Thanh Xuân)

4/ Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lê V phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.

5/ Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ