- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thành Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thành Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2018/HS-ST Ngày: 11-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Mùi và bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Việt - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Chu Văn Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2018, tại hội trường khu dân cư L, phường C, thị xã C, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2018/TLST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:
Trần Thành Đ, sinh ngày 9 tháng 5 năm 1999.
Nơi sinh tại thị xã C, tỉnh Hải Dương; nơi ĐKHKTT: khu dân cư H, phường B, thị xã C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức H và bà Trần Thị C; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2018 đến ngày 23/6/2018 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại tạm giam K thuộc Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.
- Những người tham gia tố tụng khác:
Người chứng kiến: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1988.
Trú tại: khu dân cư Đ, phường H, thị xã C, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thành Đ là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 21 tháng 6 năm 2108, Trần Thành Đ đi xe bus đến trước cửa quán AMI thuộc phường S, thị xã C với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây, Đ gặp một người đàn ông không quen biết, người này có hỏi Đ: "Em lấy đồ hả". Đ hiểu ý là người đàn ông này gạ Đ mua ma túy nên trả lời Vâng. Hai bên thống nhất giá mua bán xong thì Đ đưa cho người đàn ông này 200.000 đồng gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và nhận lại 1 túi nilông màu trắng. Đ đem gói ma túy vừa mua được giấu vào bên trong vỏ bảo vệ mặt sau chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám của Đ rồi đi xe bus về quán internet của chị Phan Thị Nh ở khu dân cư Đ, phường H, thị xã C, tỉnh Hải Dương để chơi game. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, công an thị xã C tiến hành kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Đ. Thu giữ 1 túi nilon bên trong có chứa chất kết tinh màu trắng là ma túy được giấu bên trong vỏ bảo vệ mặt sau chiếc điện thoại di động Sam Sung của Đ để ở trên mặt bàn máy vi tính.
Tại Kết luận giám định số 3395/C54(TT2) ngày 30/6/2018 của Viện khoa học hình sự, Tổng cục cảnh sát, Bộ công an kết luận: Mẫu chất kết tinh màu trắng trong túi nilon gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,277 gam; loại: Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số: 59/CT-VKSCL, ngày 23-8-2018, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Trần Thành Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và xin được hưởng mức án thấp nhất.
Đại diện VKSND thị xã Chí Linh giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thành Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Thành Đ từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21-6-2018.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS; tịch thu và tiêu hủy 0,219 gam tinh thể màu trắng hoàn lại sau giám định, vỏ bao gói mẫu đựng trong phòng bì niêm phong số: 3395/C54(TT2). Trả lại bị cáo Đ 1 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám cùng 1 ốp bảo vệ mặt sau điện thoại màu đen.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Chí Linh, Điều tra viên, VKSND thị xã Chí Linh, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của Trần Thành Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 21 tháng 6 năm 2018, tại quán internet của chị Phan Thị Nh ở khu dân cư Đ, phường H, thị xã C, tỉnh Hải Dương, Trần Thành Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,277 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị lượng công an thị xã Chí Linh phát hiện bắt quả tang.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi thực hiện là trái pháp luật nhưng bị cáo Đ vẫn tàng trữ 0,277 gam loại Methamphetamine để sử dụng nên hành vi trên của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, VKSND thị xã Chí Linh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm và có tính chất nghiêm trọng đối với xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Hiện nay tệ nạn ma tuý không những là hiểm họa của toàn cầu và gây ra nhiều tác hại cho xã hội mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, hành vi trên của bị cáo phải bị xử lý nghiêm và cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên tại quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đ là người nghiện ma túy, không có thu nhập, mua ma túy về sử dụng chứ không bán lại để hưởng lợi nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối bị cáo.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 0,277 gam loại Methamphetamine. Sau khi giám định, đã hoàn trả 0,219 gam tinh thể màu trắng và vỏ bao gói mẫu. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu và tiêu hủy. Chiếc điện thoại di động Samsung cùng 1 ốp bảo vệ không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Bị cáo Đ khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người bán ma túy cho mình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Thành Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Xử phạt bị cáo Trần Thành Đ 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 21/6/2018.
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS năm 2015;
Tịch thu và tiêu hủy 0,219 gam tinh thể màu trắng hoàn lại sau giám định cùng vỏ bao gói mẫu đựng trong phòng bì niêm phong số: 3395/C54 (TT2).
Trả lại cho bị cáo Trần Thành Đ 1 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám và 1 ốp bảo vệ mặt sau chiếc điện thoại màu đen.
(Tình trạng cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản Công an thị xã Chí Linh và Chi cục THADS thị xã Chí Linh ngày 23/8/2018)
6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Thành Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKSND thị xã Chí Linh; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Công an thị xã Chí Linh; - Chi cục THADS thị xã Chí Linh; - Bị cáo (qua trại giam); - Lưu: Tòa án, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà |