- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN ND TP VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 62/2018/HNGĐ - ST Ngày: 19-6-2018 Về việc: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Hồng Phúc
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Võ Văn Dũng
Ông Nguyễn Đắc Liệt
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngần - Kiểm sát viên.
Ngày 19 - 6 -2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 237/2018/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2018, về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/QĐST-XX ngày 03 tháng 5 năm 2018, Quyết định hoãn phiên Tòa ngày 28 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Lê Thị Huyền M - sinh năm: 1993.
HKTT, cư trú: 06 - đường HT, phường Y, thành phố X, tỉnh M(có mặt).
-Bị đơn : Anh Nguyễn Tiến G - sinh năm: 1995
Địa chỉ: 06 - đường HT, phường Y, thành phố X, tỉnh M (vắng mặt đến lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa, chị Lê Thị Huyền M có những yêu cầu sau:
Chị M và anh Nguyễn Tiến G đi đến hôn nhân sống chung năm 2013 sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố X, tỉnh M vào năm 2015 kết hôn muộn, trên cơ sở tự nguyện. Quá trình sống chung chị Trang và anh Cường có với nhau 01 người con là Nguyễn Lê Gia KH - sinh ngày 24 -10 -2013. Trong thời gian sống chung giữa chị M và anh G thường xuyên xảy ra to tiếng tranh cãi. Nguyên nhân mâu thuẫn chị M cho rằng hai vợ không hợp tính nhau, mâu thuẫn giữa chị M và anh G ngày càng trầm trọng vợ chồng chị M, anh G đã ly thân nhau từ tháng 10 năm 2016 cho đến nay.
Nay chị M cho rằng tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Tiến G - sinh năm: 1995.
Về con chung: Chị M và anh G có 01 con chung là Nguyễn Lê Gia KH -sinh ngày 24-10-2013. Chị M yêu cầu tiếp tục được quyền trực tiếp nuôi con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Tiến G được Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu mời nhiều lần tới giải quyết vụ án, nhưng anh G vắng mặt không lý do và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị M.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành và thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tại phiên Tòa thư ký và hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại điều 51, 63 BLTTDS.Quá trình xét xử tuân thủ đúng trình tự quy định tại các điều 239, 243, 248, 249, 250 và 260 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56,81,82,83 và điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Huyền M.Chị M được ly hôn với anh G.
Về con: Chị Lê Thị Huyền M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con Nguyễn Lê Gia Kh - sinh ngày 24-10-2013.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không có ý kiến.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại Tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu. Nhận định của Tòa án:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa chị Lê Thị Huyền M và anh Nguyễn Tiến G. Bị đơn anh Nguyễn Tiến G hiện cư trú tại 06 - đường HT, phường Y, thành phố X, tỉnh M , do đó vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu căn cứ khoản 1 điều 28, điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Ngày 28 - 5 -2018, Tòa án đưa vụ án ra xét xử anh G được triệu tập hợp lệ vắng mặt không lý do, nay anh G vắng mặt đến lần thứ hai không lý do; Căn cứ điểm b, khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Tiến G.
Về nội dung:
[2] Chị M và anh G sống chung năm 2013; đến ngày 24 -11 -2015, chị Lê Thị Huyền M và anh Nguyễn Tiến G mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Y, thành phố X, tỉnh M và chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, nên hôn nhân giữa chị M và anh G là đúng quy định của pháp luật.
Chị M cho rằng cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc vì tính tình không hòa hợp. Nguyên nhân mâu thuẫn chị M cho rắng anh G không chăm lo cho cuộc sống gia đình từ đó giữa chị M và anh G thường xuyên xảy ra to tiếng xúc phạm tới nhau.Chị M và anh G đã sống ly thân nhau từ tháng 10 năm 2016 cho đến nay.
Qua việc xác minh mâu thuẫn: Chính quyền địa phương cho biết chị M và anh G có hộ khẩu thường trú và sinh sống ở số 06 - đường HT, phường Y, thành phố X, tỉnh M. Thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn anh G bỏ đi nơi khác sinh sống.Qua đó thể hiện mâu thuẫn giữa chị M và anh G là có tình cảm không thể hàn gắn được, tuy nhiên chị M, anh G mâu thuẫn nhưng không báo lên chính quyền để tổ chức hòa giải.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị M và anh G là có thật, đúng như chị M cho biết. Do đó cuộc sống hôn nhân của chị M, anh G đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân giữa chị M và anh G không đạt được. Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu nhiều lần tổ chức phiên hòa giải anh G được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do qua đó cho thấy anh G cũng không muốn hòa giải đoàn tụ.
Hội đồng xét xử xét thấy; Có đủ căn cứ áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năn 2014; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Huyền M. Chị Lê Thị Huyền M được ly hôn với anh Nguyễn Tiến G.
Về con : Chị M và anh G có 01 con chung Nguyễn Lê Gia KH - sinh ngày 24 -10- 2013.
Chị Trang yêu cầu tiếp tục được quyền trực tiếp nuôi con.
Nhận định của Tòa án: Kể từ khi chị M và anh G ly thân năm 2016, cho đến nay, chị Mlà người trực tiếp nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ tiếp tục giao cháu Nguyễn Lê Gia KH - sinh ngày 24 -10- 2013, cho Lê Thị Huyền M trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị M cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh G cùng các thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của chị M; Căn cứ các điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện chị M làm nhân viên điều hành hãng Taxi ViNa Sun có mức thu nhập 7.000.000đ(Bảy triệu đồng)/tháng.
Chị M cùng con đang ở cùng gia đình bên ngoại tại số 06 - đường HT, phường Y, thành phố X. Chị M có thu nhập , có chỗ ở ổn định nên việc chị M không yêu cầu anh G cấp đưỡng nuôi con không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của cháu KH do đó Hội đồng không xem xét.
Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
[4] Vể án phí Hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Thị Huyền M phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào: Điều 56,57,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng điểm a, khoàn 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Về hôn nhân:
Tuyên xử: Chị Lê Thị Huyền M được ly hôn với anh Nguyễn Tiến G.
Về con :
Tuyên xử: Giao con là Nguyễn Lê Gia KH - sinh ngày 24 -10- 2013, cho chị Lê Thị Huyền M trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị M cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh G cùng các thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của chị M.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nê không xem xet.
Quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết nên không đặt ra để xem xét.
Án phí HNST: Chị Lê Thị Huyền M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), đã nộp theo biên lai số 0001173 ngày 27 tháng 3 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Chị Trang đã nộp xong án phí hôn nhân sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân Tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu ; -Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; - Ủy ban ND phường Rạch Dừa thành phố Vũng Tàu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |