vanban.org

Bản án 62/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Phùng Hữu T. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn ông Phùng Hữu T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Cẩm Hồng + Phùng Hữu Tưởng"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 30/11/2018
Về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân Hƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hoa

Ông Ngô Văn Sỹ

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Trong ngày 30 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phốĐà Nẵng, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 298/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2018 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2018/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm H - sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ 30B, phường T, quận C, thành phố Đ - Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Ông Phùng Hữu T - sinh năm 1988; Địa chỉ: Số 74 đường N, tổ 85, phường H, quận L, thành phố Đ - Vắng mặt tại phiên tòa thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Cẩm H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Phùng Hữu T đăng ký kết hôn năm 2015 tại Uỷ ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Đ. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2017 đến nay, nguyên nhân là do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau, ông T không có trách nhiệm, không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng tôi thường xuyên cãi vả nhau, cuộc sống không hạnh phúc, hai bên gia đình đã nhiều lần hòa giải để tôi và ông T đoàn tụ nhưng đều không thành. Nay tình trạng hôn nhân đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, tôi không còn tình cảm với ông T nên yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn.

Về con chung: Tôi và ông Phùng Hữu T có 01 con chung tên Phùng Nguyễn Cẩm A - sinh ngày 04 tháng 6 năm 2016. Ly hôn, tôi có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung đến khi con đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tôi và ông Phùng Hữu T không có tài sản chung.

Về nợ chung: Tôi và ông Phùng Hữu T không nợ chung.

Bị đơn - ông Phùng Hữu T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

C¨n cø c¸c tµi liÖu, chøng cø cã trong hå s¬ vô ¸n, đã được thÈm tra t¹i phiªn tßa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhËn ®Þnh:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Cẩm H với bị đơn ông Phùng Hữu T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 208, 209, 210 và 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Bị đơn ông Phùng Hữu T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa ông T vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử vắng mặt ông Phùng Hữu T.

Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Phùng Hữu T thì thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Phùng Hữu T đăng ký kết hôn năm 2015 tại Uỷ ban nhân dân phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình giải quyết vụ án, chính quyền địa phương xác nhận quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Phùng Hữu T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau về mọi mặt, ông Phùng Hữu T sống không có trách nhiệm, không thương yêu vợ con, mâu thuẫn vợ chồng kéo dài mặc dù đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Cẩm H là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Cẩm H xác nhận bà và ông Phùng Hữu T có 01 con chung tên Phùng Nguyễn Cẩm A - sinh ngày 04 tháng 6 năm 2016. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Phùng Nguyễn Cẩm A dưới 36 tháng tuổi, mặt khác ông Phùng Hữu T không có văn bản trình bày ý kiến, tại phiên tòa ông Phùng Hữu T không có mặt để trình bày nguyện vọng của mình về việc nuôi con chung, cũng như không chứng minh được điều kiện nuôi con. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H về việc nuôi con, giao cháu Phùng Nguyễn Cẩm A cho bà Nguyễn Thị Cẩm H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với các Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, ông Phùng Hữu T không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Nguyễn Thị Cẩm H không yêu cầu. Trong trường hợp bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Phùng Hữu T có tranh chấp về việc thay đổi người nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung (tại thời điểm con chung chưa đủ 18 tuổi) thì sẽ được Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác khi các bên có yêu cầu.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Cẩm H xác nhận bà và ông Phùng Hữu T không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Cẩm H xác nhận bà và ông Phùng Hữu T không nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Cẩm H đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003052 ngày 16 tháng 7 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thị Cẩm H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 51, 56, 81 và 82 Luật hôn nhân, gia đình năm 2014;

- Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với ông Phùng Hữu T.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Cẩm H được ly hôn ông Phùng Hữu T.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Phùng Nguyễn Cẩm A - sinh ngày 04 tháng 6 năm 2016 cho bà Nguyễn Thị Cẩm H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, ông Phùng Hữu T không cấp dưỡng nuôi con chung.

Quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Cẩm H xác nhận bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Phùng Hữu T không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Cẩm H xác nhận bà Nguyễn Thị Cẩm H và ông Phùng Hữu T không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Cẩm H đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003052 ngày 16 tháng 7 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Bà Nguyễn Thị Cẩm H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án:

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) kết quả xét xử tại nơi cư trú.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ