vanban.org

Bản án 62/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim P đối với ông Nguyễn Thành T.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim P được ly hôn với ông Nguyễn Thành T. 2/ Về án phí: Bà Lê Thị Kim P phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003418, ngày 28/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X. Bà … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Kim Phụng - Nguyễn Thành Trí"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim P đối với ông Nguyễn Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN X
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 10/9/2018
“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X - TỈNH LONG AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Phượng

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Lê Thị Vân

2/ Ông Trần Văn Nhị

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Long An.

Ngày 10 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện X xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 162/2018/TLST-HNGĐ, ngày 28/6/2018 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07/8/2018 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim P, sinh năm 1994. Địa chỉ: ấp VK, xã BA, huyện X, tỉnh Long An.

2/ Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp AH 1, xã BA, huyện X, tỉnh Long An.

(Bà P có mặt, ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Lê Thị Kim P trình bày:

Bà và ông T tiến đến hôn nhân có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BA, huyện X, tỉnh Long An ngày 22/5/2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều khác biệt trong lối sống, không hòa nhập được với nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.

Con chung không có. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Thành T trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vẫn vắng mặt, không làm bản tự khai không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào và không có ý kiến phản hồi hay yêu cầu gì đối với việc khởi kiện của bà P, cũng như vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, hòa giải nhưng không được do bị đơn vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

Thủ tục tố tụng:

Bà Lê Thị Kim P nộp đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thành T. Ông T có hộ khẩu tại xã BA, huyện X, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện X thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Thành T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng vẫn không tham gia phiên tòa sơ thẩm là từ bỏ quyền lợi của mình, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nội dung:

Về nội dung vụ án:

Tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, bị đơn không đến Tòa để trình bày ý kiến, không có phản đối gì đối với yêu cầu của bà P là từ bỏ quyền lợi của mình, nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án trên những chứng cứ phía nguyên đơn cung cấp có trong hồ sơ vụ án xác định như sau:

Bà P và ông T được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 22/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã BA. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Ông T không quan tâm đến bà và thường hay đuổi bà đi. Nay thấy không thể kéo dài cuộc hôn nhân với ông T nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T. Về con chung không có.

Xét thấy, từ khi vụ án thụ lý cho đến nay, ông T không đồng ý ly hôn nhưng không có bất kỳ giải pháp nào để hàn gắn mối quan hệ hôn nhân và vắng mặt suốt quá trình tố tụng, không có thiện chí hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với bà P. Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa bà P và ông T là trầm trọng nên yêu cầu xin ly hôn của bà P phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên có cơ sở chấp nhận.

Về nợ chung, tài sản chung: Cho đến khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này có tranh chấp, các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.

Từ các phân tích trên, yêu cầu khởi kiện của bà P là có căn cứ chấp nhận toàn bộ.

Về án phí: Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, bà P phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 39, 147, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Kim P đối với ông Nguyễn Thành T.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim P được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

2/ Về án phí: Bà Lê Thị Kim P phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003418, ngày 28/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện X. Bà Lê Thị Kim P không phải nộp thêm. Ông Nguyễn Thành T không phải chịu án phí.

Án xử sơ thẩm, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:

Cỡ chữ