vanban.org

Bản án 62/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 29/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 ( Khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017) Xử phạt Nguyễn Văn T 12 ( Mườ i hai ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt ta ̣m giữ 10/8/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀ NH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 62/2017/HSST
Ngày: 29/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀ NH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Thế Hưng

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Văn Minh;

Ông Nguyễn Ngọc Tuy;

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Văn Khánh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kim Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thà nh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyê ̣n Kim Thành, Tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2017/HSST ngày 14/9/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1978; Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã H, huyện K, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao đô ̣ng tự do; Trình độ văn hoá: 02/12; Con ông Nguyễn Văn N (Ông N được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba) và bà Trần Thị L; Tiền án, tiền sự : không; Bị tạm giữ từ ngày 10/8/2017, chuyển ta ̣m giam từ ngày 12/8/2017 tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tinh Hả

̉i Dương cho đến nay - Có mặt tại phiên toà.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thà nh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do là đối tượng nghiện ma túy nên khoảng 13h30’ ngày 10/8/2017, Nguyễn Văn T đi xuống khu vực ga Dụ Nghĩa - Hải Phòng với mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, T gặp và mua 01 gói giấy màu trắng kích thước 3x4cm, bên trong có hai gói giấy màu trắng kích thước 0,5x1,5cm bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai là Heroine) với giá 200.000đ của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ. T cầm gói ma túy cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc rồi đi về. Đến khoảng 17h20’ cùng ngày, khi T đang đứng tại khu vực phố G, thị trấn P, huyện K thì bị tổ công tác của Công an huyện Kim Thành phối hợp với Công an thị trấn P kiểm tra, T bỏ chạy và lấy gói ma túy trong túi quần vứt vào rìa đường thì bị bắt giữ, thu tại rìa đường ngay chỗ T đứng gói ma túy có đặc điểm như trên, kiểm tra, thu giữ trong túi quần của T 01 chiếc xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 313/KLGĐ ngày 12/8/2017 của Phòng ky ̃ thuâ ̣t hinh sự - Công an tinh Hả

̉i Dương kết luận : Chất bô ̣t da ̣ng cu ̣c màu trắng

̀ thu của Nguyễn Văn T có tổng trọng lượng 0,146 gam, là loại Heroin, hoàn lại sau giám định 0,103 gam. Heroinnằm trong Danh mu ̣c I , STT 20, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 57/VKS - HS ngày 13/9/2017, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Kim Thành truy tố Nguyễn Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà : Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tà ng trữ trái phép chất ma tuý”; Đề nghi ̣ á p dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 ( Khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm 2015. Nghị quyết số

̀ 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017) xử phạt Nguyễn Văn T từ 12 - 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10/8/2017; Về vật chứng: đề nghị áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS,điểm a, c khoản 1 Điều 41 BLHS: tịch thu cho tiêu huỷ 0,103 gam, là loại Heroine hoàn la ̣i sau giám đi ̣nh và 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326 về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo thừ a nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; lời khai người làm chứng; vật chứng đã thu giữ và một số các chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa là có đủ chứng cứ kết luận: Vào hồi 17h20’ ngày 10/8/2017, tại khu vực P, thị trấn P, huyện K, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,146 gam là Heroin tại túi quần bên phải phía trước đang mặc thì bị Công an huyện Kim Thành phối hợp với Công an thị trấn P kịp thời phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng thu giữ.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được viê ̣c tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng do nghiê ̣n heroine nên đã cố ý tàng trữ trái phép 0,146 gam heroin trong ngườ i vớ i mu ̣c đich để sử du ̣ng là

́ đa xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý;̃ xâm phạm đến trật tự trị an xã hội và đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Do vâ ̣y, viê ̣c truy tố, xét xử bị cáo về tội danh điều khoản trên là đúng , ngườ i đúng tô ̣i, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , bản thân bị cáo là đối tượng nghiê ̣n ma túy có nhân thân không tốt, nên cần áp du ̣ng hình phạt tù nghiêm khắc tương ứ ng vớ i mứ c đô ̣ pha ̣m tô ̣i của bi ̣ cáo , nhằm giáo du ̣c bi ̣ cáo về ý thứ c pháp luâ ̣t và phòng ngừ a chung.

Tuy nhiên, bị cáo bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo

khoản 1 Điều 194 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự 1999 có quy định hình phạt từ 02 năm đến 07

̀ năm tù , so sánh vớ i khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự 2015 quy đi ̣nh mứ c hinh

̀

̀ phạt từ 01 năm đến 05 năm tù là nhẹ hơn, có lợi hơn cho người p hạm tội cần được áp dụng.

Về tinh tiết giảm nhe ̣: Quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà bị cáo đã

̀ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, nên bi ̣ cáo được áp du ̣ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ là người có công được Chủ tịch nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng 3 nên còn được áp du ̣ng tinh tiết giảm nhe ̣ ta ̣i khoản 2 Điều 46 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự năm

̀

̀ 1999.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy , không có công ăn việc làm ổn đi ̣nh , không có tài sản đảm bảo thi hành án , nên xét không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng đa thu gi ữ được xử lý như sau : 01 (mô ̣̃

t) phong bi số

̀ 313/KLGĐ-PC54 đã được niêm phong dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tinh Hả

̉i Dương , bên trong có 0,103 gam, là loại heroin hoàn lại sau giám đi ̣nh và01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Công an thị trấn P, bên trong có 01 xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụngcần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 BLTTHS; luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án.

Trong vu ̣ án này , T khai số tiền 200.000đ dùng để mua ma túy là của đối tượng tên Đ ở thôn N, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương đưa cho để cùng T đi mua ma túy của một người không rõ lai lịch , thuô ̣c đi ̣a phâ ̣n ga D, thành phố Hải Phòng. Quá trình xác minh không xác định được các đối tượng ở các địa chỉ trên trên nên không có căn cứ để làm rõ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2Điều 46 Bộ luật hình sự 1999 ( Khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017)

Xử phạt Nguyễn Văn T 12 ( Mườ i hai ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt ta ̣m giữ 10/8/2017.

3/ Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy:

01 (mô ̣t) phong bi số 313/KLGĐ-PC54 đã được niêm phong dấu của

̀ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tinh Hả

̉i Dương , bên trong có 0,103 gam, là loại heroin hoàn la ̣i sau giám đi ̣nh và 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Công an thị trấn P, bên trong có 01 xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng

(Theo biên bản bàn giao vật chứng giữa Công an huyê ̣n Kim Thà nh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thà nh vào hồi 8h30’ ngày 19/9/2017)

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hô ̣i về án phi lê ̣ phi Tòa án.

́

́

Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ