- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Nam - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc; giữ nguyên các quyết định của Bản án hình sư sơ thẩm số 38A/2023/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đối với Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguy…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 169 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 619/2023/HS-PT Ngày: 17/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn VĐ
Các Thẩm phán:
Ông Thái Duy Nh
Ông Đặng Đình Lực.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Xuân Th, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội: Ông Nguyễn Huy H, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 629 /2023/TLPT-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Trần Văn Nvà đồng phạm phạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tại sản” do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 38A/2023/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Văn Nam, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Trần Xá, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Văn Luân (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1966; gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Trương Thị Chỉnh, sinh năm 1991 và có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 15/6/2019 bị Công an tỉnh Bắc Ninh xử phạt hành chính 3.000.000đ về hành vi sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 08/5/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, sau đó bị cáo đã chấp hành hình phạt tù của Bản án số 535 ngày 30/10/2020 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội từ ngày 24/12/2020 đến ngày 04/3/2022 được ra trại, hiện tại ngoại. Có mặt.
2. Phan Văn Quyền, sinh năm 1988; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Bãi Dài, xã Huyền Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn Tuất, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Bé, sinh năm 1959; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là Dương Thị Minh, sinh năm 1997 và có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/6/2019 bị Công an tỉnh Bắc Ninh xử phạt hành chính 3.000.000đ về hành vi sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2019 đến ngày 10/4/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, sau đó bị cáo đã chấp hành hình phạt tù của Bản án số 535 ngày 30/10/2020 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội từ ngày 25/02/2021 đến ngày 04/11/2022 được ra trại, hiện tại ngoại. Có mặt.
3. Nguyễn Văn Đắc, sinh năm 1989; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Văn Thọ, xã Đại Đức, huyện Kim thành, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con bà Nguyễn Thị Phí, sinh năm 1959; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út; có vợ là Bùi Thị Nhung, sinh năm 1992 và có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/6/2019 bị Công an tỉnh Bắc Ninh xử phạt hành chính 3.000.000đ về hành vi sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 10/4/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
4. Nguyễn Quang Trường, sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đông Yên, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Quang Chiến, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1963; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất; có vợ là Diêm Thị Hồng, sinh năm 1987 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: tại Bản án số 18/HSST ngày 04/7/2003 Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 27/03/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
5. Trịnh Anh Tùng, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 7, phường Gia Sàng, thàn phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trịnh Xuân Thịnh (đã chết) và bà Trần Thị Huệ, sinh năm 1961; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ 02; có vợ là Trịnh Thị Hoa, sinh năm 1986 và có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: tại Bản án số 20/HSST ngày 24/3/2009, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Đánh bạc”,bị cáo phải chịu 50.000 đồng án phí HSST và 3.000.000 đồng tiền phạt,ngày 24/7/2014 chấp hành xong khoản tiền án phí, tiền phạt; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 10/4/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
Trong vụ án còn có: các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo; các bị cáo không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 8/2018, Trần Văn Ncó cho anh Lưu Mạnh Tuấn - trước đây là bảo vệ của Công ty cổ phần dịch vụ bảo vệ Bình An - Sài Gòn ở Khu công nghiệp Sam Sung, huyện Yên Phong vay nợ số tiền 150.000.000đ. Do nhiều lần đòi nợ anh Tuấn, nhưng anh Tuấn không trả và nghỉ việc vào làm tại Công ty dịch vụ bảo vệ Hải Sơn, địa chỉ 14/8, Nhất Chi Mai, phường 15, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy Nam đã nói với bạn là Nguyễn Diệu Linh về việc anh Tuấn không trả nợ Nam 150.000.000đ, đồng thời Nam nhờ Linh cho Nam mượn tài khoản Zalo của Linh theo số sim 0934.642.989 và mật khẩu là Linh 1991, để Nam kết bạn và làm quen với anh Tuấn với mục đích đưa anh Tuấn từ Thành phố Hồ Chí Minh ra để bắt giữ và đòi nợ. Sau khi được Linh cho mượn tài khoản Zalo, Nam lấy danh nghĩa của Linh kết bạn được với anh Tuấn. Qua nhiều lần nói chuyện, Nam mạo danh Linh rủ anh Tuấn đi Tam Đảo, Vĩnh Phúc chơi vào chiều 15/01/2019, anh Tuấn đồng ý. Đến ngày 12/01/2019, Nam nói cho Linh biết việc ngày 15/01/2019 anh Tuấn sẽ bay từ Thành phố Hồ Chí Minh ra sân bay Nội Bài để gặp Linh. Nam đã bàn với Linh đi cùng Nam bắt giữ anh Tuấn để đòi nợ, Linh đồng ý. Sau đó Nam rủ các bạn Nam cùng tham gia là Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc và Phan Văn Quyền (Đắc, Quyền đang thuê phòng trọ ở tại nhà Nam). Nam nói rõ cho Trường, Đắc, Quyền biết việc anh Tuấn không trả nợ Nam 150.000.000đ và Nam đã nhờ Linh hẹn được anh Tuấn từ Thành phố Hồ Chí Minh ra sân bay Nội Bài và rủ Trường, Đắc, Quyền cùng đi đến sân bay Nội Bài bắt giữ, ép anh Tuấn phải trả nợ tiền, Trường, Đắc và Quyền đồng ý. Tiếp đó Nam chuẩn bị 01 ba lô màu đen bên trong có 03 gậy rút (mỗi gậy rút dài khoảng 60 cm), 01 bình xịt hơi cay, 01 bật lửa điện và 01 còng số 8. Đến 14 giờ 30 phút ngày 15/01/2019, Nam bảo Đắc gọi taxi chở mọi người đi sân bay Nội Bài, Đắc đã gọi Trịnh Anh Tùng là lái xe của hãng taxi Thăng Long có BKS 99A-11904 đến đón Nam, Linh, Trường, Đắc, Quyền đi ra sân bay Nội Bài. Trên đường đi Nam bàn với Linh, Trường, Đắc, Quyền cách thức bắt giữ anh Tuấn, nên Tùng biết việc mọi người ra sân bay là để bắt giữ anh Tuấn đòi tiền nợ. Lúc này trên xe Linh nhận được điện thoại của anh Tuấn thông báo đã lên máy bay tại sân bay Tân Sơn Nhất, TP Hồ Chí Minh và đến khoảng 19 giờ cùng ngày sẽ ra đến sân bay Nội Bài.
Khoảng 15 giờ ngày 15/01/2019, Tùng chở Nam, Quyền, Trường, Đắc và Linh đến sân bay Nội Bài và thuê 02 phòng tại một nhà nghỉ gần sân bay. Tại đây Nam và Đắc nói với Tùng về việc cùng mọi người ra sân bay Nội Bài bắt giữ anh Tuấn, bằng cách Linh sẽ bắt taxi khác đi trước đón anh Tuấn còn Tùng chở mọi người theo sau, khi nào xe chở Linh và anh Tuấn dừng lại thì Tùng đỗ xe phía sau để mọi người chạy lên bắt giữ anh Tuấn, Tùng đồng ý tham gia. Sau đó Nam bảo với Trường, Đắc, Quyền và Linh nội dung để Linh gọi taxi khác đi vào đón anh Tuấn, mọi người đi xe của Tùng theo sau, đến đoạn vắng Linh bảo lái xe dừng lại để mọi người cùng lên bắt giữ anh Tuấn.
Đến khoảng 19 giờ 20 phút ngày 15/01/2019, anh Tuấn gọi điện thoại báo cho Linh biết đã đến sân bay Nội Bài. Đúng như kế hoạch, Linh gọi 01 taxi hãng xe 123, không nhớ biển kiểm soát đi đón anh Tuấn. Khi Linh đón được anh Tuấn và bảo lái xe đi về theo hướng Tam Đảo, Vĩnh Phúc, xe của Linh đi trước. Tùng điều khiển xe ô tô chở Nam, Quyền, Đắc và Trường đi theo xe taxi 123. Trên xe, Quyền mở ba lô đưa cho Nam, Đắc, và Trường mỗi người 01 gậy rút còn Quyền cầm bình xịt hơi cay để chuẩn bị đánh, bắt giữ anh Tuấn. Xe taxi 123 chở anh Tuấn và Linh đi được khoảng 15 km về hướng Vĩnh Phúc thì dừng lại, xe của Tùng cũng dừng lại ngay phía sau. Tùng ngồi trên xe ô tô, còn Nam, Quyền, Đắc và Trường mở cửa, chạy sang xe của anh Tuấn. Trường giữ lôi Linh ra ngoài và đưa Linh sang xe của Tùng còn Nam mở cánh cửa trái phía sau xe; Đắc mở cánh cửa bên phải sau xe, Quyền mở cánh trước ghế phụ và dùng bình xịt hơi cay xịt vào mặt anh Tuấn làm anh Tuấn choáng. Sau đó, Nam và Đắc dùng gậy vụt vào chân anh Tuấn, Nam, Quyền dùng tay đấm vào mặt anh Tuấn, đến khi anh Tuấn xin trả nợ tiền thì Nam, Quyền, Đắc dừng lại không đánh nữa. Nam, Đắc giữ tay anh Tuấn rồi Nam đưa còng số 8 cho Đắc khóa một đầu vào tay phải anh Tuấn và một đầu khóa vào gầm ghế lái. Đắc dùng áo trùm đầu anh Tuấn và yêu cầu lái xe taxi 123 quay đầu xe đi về hướng Bắc Ninh, Nam lấy điện thoại di động Sam Sung A7 của anh Tuấn. Trường và Linh đi xe của Tùng theo sau xe taxi 123 chở Nam, Đắc, Quyền và anh Tuấn. Khi về đến tỉnh Bắc Ninh, Nam gọi điện thoại cho Trường nói đưa anh Tuấn về nhà kho tập kết phế liệu của Trường ở thôn Phong Xá, xã Đông Phong, huyện Yên Phong giữ một hôm, Trường đồng ý. Sau đó, Nam đi sang xe Tùng ngồi cùng Trường và Linh đi trước dẫn đường còn xe taxi 123 chở Quyền, Đắc và anh Tuấn đi sau. Khi về đến nhà kho của Trường, Đắc bảo lái xe taxi 123 đi thẳng vào trong kho. Còn xe của Tùng đỗ ở ngoài cửa kho, Tùng, Linh và Nam đi vào trong kho, khoảng 5 phút sau thì Tùng đi về trước, Trường, Đắc đóng cửa kho. Lúc này Quyền xách ba lô xuống xe, còn anh Tuấn vẫn bị khóa ngồi trên xe taxi 123. Nam bỏ điện thoại của anh Tuấn ra xóa hết tin nhắn Zalo, lịch sử cuộc gọi giữa Linh và anh Tuấn. Quyền lục ví của anh Tuấn có thẻ ATM, giấy chứng minh nhân dân và 2.700.000đ. Quyền giữ lại ví, thẻ ATM, giấy chứng minh nhân dân còn trả lại tiền cho anh Tuấn. Sau đó Nam, Đắc và Quyền cho anh Tuấn xuống xe đưa vào nhà vệ sinh. Tại đây, Quyền dùng còng số 8 khóa tay anh Tuấn, dùng dây đai bó kiện hàng màu trắng và màu vàng xanh trói hai tay của anh Tuấn ngược ra phía sau và dùng băng dính màu trắng có đường kính 9,5 cm bản rộng 5 cm quấn vào tay, bịt miệng anh Tuấn. Sau đó, Nam và Đắc đi xe taxi 123 về nhà Nam và Nam lấy dây xích dài khoảng 1,5 mét rồi cùng Đắc đi mua đồ ăn và quay lại nhà kho, Nam trả lái xe taxi 123 hết 500.000đ để lái xe ra về. Khi Nam, Đắc đến kho thì Quyền đưa anh Tuấn ra gần bàn uống nước, dùng 01 đầu dây xích quấn vào cột, đầu xích còn lại buộc vào còng số 8 đang khóa tay phải anh Tuấn. Linh, Nam, Trường, Đắc, Quyền và anh Tuấn ngồi ăn tại kho của Trường. Quá trình ăn, Đắc, Quyền bảo anh Tuấn trả tiền cho Nam thì sẽ được thả. Sau khi ăn xong, Nam bảo Quyền, Đắc chuyển anh Tuấn ra góc kho bên phải, Quyền và Đắc dùng băng dính buộc chân, tay bên trái vào 01 hộp kim loại màu trắng kích thước 1,14mx0,04mx0,02m, tay phải vẫn khóa bằng còng số 8 buộc với dây xích cột vào cột sắt trong kho để Tuấn không bỏ trốn và tự tử được. Đến khoảng 24 giờ ngày 15/01/2019, Nam, Trường và Linh đi về, còn Quyền và Đắc ở lại nhà kho trông giữ anh Tuấn.
Đến trưa ngày 16/01/2019, Nam, Trường, Đắc, Quyền và Linh tập trung tại nhà kho ăn trưa. Nam chuẩn bị 01 điện thoại Nokia có sim khuyến mại số 0332.821.830 để đưa cho anh Tuấn gọi về nhà chuyển tiền vào tài khoản của anh Tuấn và rút tiền trả nợ cho Nam. Khoảng 13 giờ ngày 16/01/2019, Đắc gọi Tùng đi xe taxi đến nhà kho đón Đắc. Nam lại dùng tay đấm vào vùng mắt phải của anh Tuấn và đưa cho anh Tuấn chiếc điện thoại Nokia và bảo Tuấn gọi điện về gia đình yêu cầu gửi 150.000.000 đồng vào tài khoản của anh Tuấn. Nên anh Tuấn gọi điện cho vợ cũ là chị Đàm Thị Phương Lan nói việc anh Tuấn đang bị bắt giữ do nợ tiền 150.000.000đ và nhờ chị Lan sang bảo bố mẹ anh Tuấn đi vay tiền chuyển vào tài khoản của anh Tuấn để trả nợ thì sẽ được về nhà. Nhưng chị Lan không bảo bố mẹ anh Tuấn vì đã ly hôn. Sau đó anh Tuấn gọi điện cho cô ruột là bà Lưu Thị Lụa nói đang nợ 150.000.000đ nên bị bắt, đánh, trói và bảo bà Lụa nói với bố mẹ vay tiền cứu Tuấn. Bà Lụa vào nhà bảo bố mẹ anh Tuấn, nhưng bố mẹ anh Tuấn không có tiền để gửi. Anh Tuấn lại gọi điện cho bạn là chị Hoàng Thị Liên nói đang nợ 150.000.000đ và bị giữ ở Bắc Ninh, anh Tuấn nhờ chị Liên lo tiền chuyển vào tài khoản cho Tuấn để được thả về.
Đến khoảng 14 giờ ngày 16/01/2019, Tùng lái xe đến đón Đắc đi lấy xe máy, trên đường đi Đắc trả Tùng 01 triệu đồng tiền taxi. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Đắc và Tùng quay lại nhà kho, Đắc yêu cầu anh Tuấn gọi điện lại cho bà Lụa, chị Lan, chị Liên để hỏi xem vay được tiền chưa, nhưng mọi người nói chưa thu xếp được tiền. Do không thấy người nhà anh Tuấn chuyển tiền, Quyền dùng điếu cày đập vào vùng đầu gối phải anh Tuấn, Nam cầm 01 bình cứu hỏa bằng kim loại màu đỏ có nhãn hiệu YA-4V ném về phía anh Tuấn và dùng chân đạp vào chân trái anh Tuấn. Chiều ngày 16/01/2019, Trường nói với Nam chuyển anh Tuấn đi chỗ khác, Nam mượn được xe ô tô BKS: 99A-085.93 của anh Nguyễn Hữu Hùng. Khi mượn xe Nam không nói cho anh Hùng biết việc Nam dùng xe ô tô vào việc bắt giữ đòi nợ tiền anh Tuấn. Tối ngày 16/01/2019, Nam, Đắc, Trường, Quyền và Linh tập trung ăn tối tại nhà kho của Trường. Đến 24 giờ cùng ngày, Linh thuê xe taxi về TP Hà Nội. Khoảng 01 giờ ngày 17/01/2019, Nam lái xe ô tô BKS: 99A-085.93 cùng Đắc, Trường đưa anh Tuấn đến phòng trọ của Quyền. Quyền dùng dây xích buộc một đầu vào còng số 8 tay anh Tuấn, một đầu buộc vào chân giường, rồi Đắc và Trường ra về. Sáng ngày 17/01/2019, Nam đi trả lại xe ô tô cho anh Hùng, Quyền trông anh Tuấn từ ngày 17/01/2018 đến rạng sáng ngày 18/01/2019. Khi ở trong phòng trọ của Quyền, anh Tuấn có nhờ Nam dùng điện thoại của anh Tuấn, chụp ảnh anh Tuấn bị đánh và đang bị còng tay rồi gửi hình ảnh qua Zalo về cho chị Hoàng Thị Liên và gọi điện cho chị họ là Lưu Thị Hà biết để cho mọi người trong gia đình anh Tuấn tin việc anh Tuấn đang bị khóa, trói, đánh và muốn anh Tuấn được thả thì gia đình phải chuyển tiền vào tài khoản cho anh Tuấn để trả nợ Nam. Lúc này Nam bảo anh Tuấn nói với chị Hà nếu không trả nợ tiền, Nam sẽ chặt tay anh Tuấn. Chị Hà đồng ý lo tiền chuộc trả nợ cho anh Tuấn.
Tối ngày 18/01/2019, Đắc gọi Tùng đi tắc xi đến nhà Nam đưa Nam và Quyền đi hát Karaoke. Đến khoảng 01 giờ ngày 19/01/2019, Tùng chở Quyền quay lại nhà Quyền và cùng Đắc đưa anh Tuấn vào xe đi ra Nghĩa trang thôn Trần Xá, xã Yên Trung, huyện Yên Phong. Quyền, Đắc dọa đốt anh Tuấn rồi Tùng lái xe trở Quyền, Đắc và anh Tuấn đến quán Karaoke Olala ở thôn Ấp Đồn, xã Yên Trung, huyện Yên Phong do anh Ngô Văn Giang là quản lý. Quyền thuê phòng hát 701. Sau đó Tùng, Quyền, Đắc đưa anh Tuấn lên phòng 701 và Tùng, Đắc đi về còn Quyền ở lại trông Tuấn. Khoảng 08 giờ ngày 19/01/2019, Quyền gọi Đắc đến thay Quyền trông giữ và cho anh Tuấn gọi điện về gia đình hỏi tiền. Đắc kiểm tra tài khoản của anh Tuấn qua phần mềm trong điện thoại của anh Tuấn thấy có số tiền 38.928.049 đồng. Trong đó, số tiền có sẵn trong tài khoản trước khi anh Tuấn bị bắt giữ là 23.928.049đ; chị Lưu Thị Hà chuyển 1 lần vào hồi 10 giờ 12 phút ngày 19/01/2019 số tiền 10.000.000đ và 1 lần vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 19/01/2019 số tiền là 5.000.000đ. Do không đủ số tiền 150.000.000đ nên Đắc không bảo anh Tuấn rút tiền. Đến 11 giờ 19/01/2019, Trường điện thoại bảo Đắc đưa anh Tuấn đến Công an đầu thú. Do không có tiền thanh toán phòng hát, nên Đắc bảo anh Tuấn đưa 2.000.000đ để Đắc trả tiền phòng hát, anh Tuấn đồng ý. Đắc thanh toán phòng hát hết 1.710.000đ, số tiền còn lại Đắc đánh rơi ở đâu không nhớ. Sau đó Tùng điều khiển xe taxi cùng Nam, Trường, Đắc đưa anh Tuấn đến Đồn Công an khu công nghiệp Yên Phong đầu thú, trên đường đi Nam đã vứt mất thẻ ATM của anh Tuấn, Đắc trả lại cho anh Tuấn ví, điện thoại di động và chứng minh nhân dân. Còn Quyền lấy ba lô đựng 3 gậy rút, bình xịt hơi cay, bật lửa điện, chăn mỏng, áo chùm đầu, dây xích dùng để trói anh Tuấn mang ra bãi rác thôn Trần Xá, xã Yên Trung, huyện Yên Phong vứt đi mất. Đến ngày 19/02/2019, Quyền ra đầu thú và ngày 21/02/2019, Linh ra đầu thú tại cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Diệu Linh và Trịnh Anh Tùng đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Quá trình điều tra anh Lưu Mạnh Tuấn khai nhận: Thông qua Trần Văn Nam, anh Tuấn có cá độ bóng đá trên mạng Internet thua, nên anh Tuấn đã vay nợ của Nam số tiền 150.000.000đ. Còn Nam không thừa nhận việc cho anh Tuấn vay tiền cá độ bóng đá, mà đây là khoản tiền Nam cho anh Tuấn vay. Do anh Tuấn không nhớ đã cá độ bóng đá ở địa chỉ nào trên mạng Internet, không cung cấp đượcmật khẩu tài khoản cá độ. Nên cơ quan điều tra chưa có căn cứ để điều tra, xử lý hành vi “đánh bạc” của anh Tuấn và Nam.
Đối với việc anh Lưu Mạnh Tuấn bị nhóm Nam đánh đập trong quá trình bắt giữ, theo Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 16 ngày 20/3/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Ninh, kết luận giám định thương tích đối với anh Lưu Mạnh Tuấn như sau: “Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là không đủ căn cứ theo thông tư để cho phần trăm thương tích”. Do thương tích nhỏ anh Tuấn không phải điều trị, nên anh Tuấn không có yêu cầu bồi thường dân sự.
Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, tài sản, đồ vật như sau:
Thu giữ tại nhà chị Bùi Thị Sâm – là chủ nhà kho cho Trường thuê gồm: 01 đầu thu Camera nhãn hiệu @Jhua màu trắng lưu trữ hình ảnh nhà kho thể hiện hình ảnh bắt giữ anh Tuấn. Sau khi thể chế hình ảnh, Cơ quan điều tra đã trả lại đầu thu Camera cho chị Sâm.
- Thu giữ của anh Ngô Văn Giang – là quản lý quán Karaoke Olala gồm: 01 đầu thu Camera nhãn hiệu Dahua, lưu trữ hình ảnh thể hiện việc đưa anh Tuấn đến quán. Sau khi thể chế hình ảnh, Cơ quan điều tra đã trả lại đầu thu Camera cho anh Giang.
- Thu giữ tại nhà kho do Nguyễn Quang Trường thuê của chị Bùi Thị Sâm gồm các vật chứng sử dụng trói anh Tuấn gồm: 01 hộp kim loại màu trắng kích thước 1,14mx0,04mx0,02m trên có nhiều đoạn băng dính quấn quanh hộp kim loại, 01 băng dính màu trắng có bản rộng 5cm; 01 cuộn băng dính màu trắng có đường kính 9,5 cm bản rộng 5 cm; 01 bình cứu hỏa bằng kim loại màu đỏ có nhãn hiệu YA-4V có chu vi 0,42 cao 0,5 mét; 01 bó dây thường dùng để cố định kiện hàng màu trắng và màu vàng xanh, có bản rộng 1,6 cm, dày 0,1 cm. Còn chiếc điếu cày dùng để đánh anh Tuấn do đã bị mất nên không thu giữ được
- Thu giữ tại phòng trọ do Phan Văn Quyền thuê của Trần Văn Ngồm: 02 thanh kiếm bằng kim loại.
- Nguyễn Văn Đắc giao nộp gồm: 01 điện thoại di động Nokia màu tím trong lắp số sim 0332.821.830, đây là điện thoại của Nam đưa cho anh Tuấn để điện về cho gia đình; 01 chiếc khóa số 8 trên mặt khóa có chữ "Bộ công an KC" dùng khóa tay anh Tuấn.
- Thu giữ của Trịnh Anh Tùng 01 xe ô tô Biển kiểm soát 99A-119.04 của hãng taxi Thăng Long. Do xe ô tô này thuộc sở hữu của Công ty cổ phần đầu tư Ngân Hà, không liên quan, không biết việc Tùng dùng xe ô tô để đi bắt giữ anh Tuấn. Nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cho anh Lê Hữu Hoàn - phó giám đốc Công ty cổ phần đầu tư Ngân Hà, là chủ thương hiệu Taxi Thăng Long.
- Đối với những chiếc điện thoại của Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền Nguyễn Quang Trường, Trịnh Anh Tùng, Nguyễn Văn Đắc và Nguyễn Diệu Linh dùng để liên lạc với nhau trong quá trình phạm tội. Do các bị can đã làm mất nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 2.000.000đ anh Lưu Mạnh Tuấn đưa cho Nguyễn Văn Đắc trả tiền phòng hát, Đắc đã giao nộp và trả lại cho anh Tuấn. Chiếc thẻ ATM anh Tuấn làm lại hết 50.000đ và làm lại số sim điện thoại hết 25.000đ, anh Tuấn không yêu cầu bồi thường.
* Tại bản Cáo trạng số: 58/CTr - VKS - P1 ngày 31 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Diệu Linh, Nguyễn Quang Trường và Trịnh Anh Tùng về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự.
* Tại Bản án sơ thẩm số 49/2019/HS-ST ngày 08/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Diệu Linh và Trịnh Anh Tùng phạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”
1. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Văn N42 (bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 08/5/2019.
- Xử phạt bị cáo Phan Văn Quyền 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2019 đến ngày 10/4/2019.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đắc 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 10/4/2019.
2. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Diệu Linh, Nguyễn Quang Trường và Trịnh Anh Tùng, mỗi bị cáo 30 (ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên hậu quả pháp lý của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 22/10/2019, các bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền và Nguyễn Văn Đắc kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại bản án hình sự phúc thẩm số 535/2020/HSPT ngày 30/10/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã quyết định: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, cụ thể:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắcphạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Văn N24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 08/5/2019.
- Xử phạt bị cáo Phan Văn Quyền 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2019 đến ngày 10/4/2019.
Áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đắc 24 (hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Diệu Linh, Nguyễn Quang Trường và Trịnh Anh Tùng, mỗi bị cáo 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Ngoài ra bản án phúc thẩm còn tuyên hậu quả pháp lý của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách, án phí.
Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 29/QĐ-VKSTC ngày 31/8/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định: Kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 535/2020/HSPT ngày 30/10/2020 của TAND cấp cao tại Hà Nội về phần trách nhiệm hình sự đối với Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Diệu Linh và Trịnh Anh Tùng. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2019/HS-ST ngày 8/10/2019 của TAND tỉnh Bắc Ninh về phần trách nhiệm hình sự của Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Diệu Linh và Trịnh Anh Tùng để xét xử sơ thẩm lại theo hướng áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 169 BLHS đối với tất cả các bị cáo, tăng hình phạt và không cho hưởng án treo đối với các bị cáo chủ mưu, cầm đầu và thực hành tích cực.
* Tại Quyết định số 15/2022/HS-GĐT ngày 04/10/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định: Căn cứ Điều 382, khoản 3 Điều 388, Điều 391 và Điều 394 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 29/QĐ-VKSTC ngày 31/8/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 535/2020/HSPT ngày 30/10/2020 của TAND cấp cao tại Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2019/HS-ST ngày 8/10/2019 của TAND tỉnh Bắc Ninh về phần trách nhiệm hình sự đối với Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Diệu Linh và Trịnh Anh Tùng.
Chuyển hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Bắc Ninh để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, cả 5 bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Các bị cáo cho rằng do thiếu hiểu biết pháp luật, hành vi phạm tội mang tính bộc phát nên đề nghị HĐXX xem xét.
Bị cáo Linh có đơn xin xét xử vắng mặt. Người bị hại là anh Tuấn và chị Hà đều vắng mặt tại phiên tòa, trong các lời khai đều thể hiện nội dung không yêu cầu bồi thường gì thêm, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38A/2023/HS-ST ngày 22/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc, Trịnh Anh Tùng và Nguyễn Diệu Linh phạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.
1. Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Văn N5 (Năm) 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 08/5/2019 và thời gian chấp hành án từ ngày 24/12/2020 đến ngày 04/3/2022.
- Xử phạt bị cáo Phan Văn Quyền 5 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2019 đến ngày 10/4/2019 và thời gian chấp hành án từ ngày 25/02/2021 đến ngày 04/11/2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đắc 5 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 10/4/2019.
2. Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Trường 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 27/3/2019.
- Xử phạt bị cáo Trịnh Anh Tùng 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 10/4/2019.
Ngày 04/4/2023, bị cáo Trần Văn Ncó đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin giàm nhẹ hình phạt cho các bị cáo khác trong cùng vụ án.
Ngày 03/4/2023, bị cáo Phan Văn Quyền có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 30/3/2023, bị cáo Nguyễn Văn Đắc có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo.
Ngày 29/3/2023, bị cáo Nguyễn Quang Trường có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được ưởng án treo.
Ngày 27/3/2023, bị cáo Trịnh Thanh Tùng có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Quang Trường, Trịnh Thanh Tùng đều giữ nguyên kháng cáo.
Bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Quang Trường đều trình bày nội dung kháng cáo: Các bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của Bản án hình sự phúc thẩm số 535/2020/HSPT ngày 30/10/2020 của TAND cấp cao tại Hà Nội; nay các bị cáo đều rất ăn năn hối cải nên xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; các bị cáo đều không có thêm tình tiết, tài liệu gì mới.
Bị cáo Trịnh Thanh Tùng trình bày nội dung kháng cáo chỉ xin giảm hình phạt; bị cáo ăn năn hối cải, bị cáo chỉ là lái xe taxi chở khách kiếm tiền nuôi sống gia đình; khi các bị cáo bàn nhau trên xe thì bị cáo mới biết sự việc nhưng vẫn chở các bị cáo Nam, Đắc, Quyền, Trường, Linh để thu được tiền, bị cáo tham gia nên xác định hành vi vi phạm. Nay xin được giảm nhẹ hình phạt vì mẹ vợ bị cáo là giáo viên được Bộ trưởng Bộ giáo dục tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục; bị cáo tích cực tham gia ủng hộ địa phương trong dịch Covid với số tiền trên 13 triệu đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nêu quan điểm: Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn, phù hợp với quy định nên cần được chấp nhận để xem xét.
Về nội dung xét kháng cáo của các bị cáo thấy: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng; Nam là ngưởi chủ mưu và thực hành tích cực; bị cáo Nam và bị cáo Trường có nhân thân xấu; sau khi phạm tội các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thường xong cho người bị hại và người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo và quyết định mức hình phạt là phù hợp với tình chất mà mức độ hành vi nguy hiểm của các bị cáo gây ra và đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Nay không có tài liệu gì mới để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Quang Trường.
Đối với bị cáo Trịnh Thanh Tùng: Tại phiên tòa phúc thẩm xuất trình thêm tài liệu mẹ vợ của bị cáo được tặng thưởng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục của Bộ trưởng Bộ giáo dục Đào tạo năm 2016 được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo tích cực tham gia ủng hộ chống dịch Covid năm 2021 được chính quyền xác nhận có danh sách ủng hộ cụ thể kèm theo với số tiền 13,8 triệu đồng, đây là những tình tiết tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự chưa được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng. Vì vậy cần chấp nhận kháng cáo xem xét giảm cho bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Quang Trường, Trịnh Thanh Tùng đều trong thời hạn quy định nên được chấp nhận để xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện các bị cáo không có ý kiến, hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Quang Trường không nộp thêm tài liệu gì mới.
Bị cáo Trịnh Thanh Tùng nộp thêm tài liệu có xác nhận về việc mẹ vợ của bị cáo là Giáo viên được Bộ trưởng Bộ giáo dục tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục nên được chấp nhận để xét.
Về nội dung, xét kháng cáo của các bị cáo:
. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo tiếp tục thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của tất cả các bị cáo đúng như bản án sơ thẩm đã xác định. Đối chiếu với các tài liệu có trong hồ sơ một lần nữa có đủ căn cứ xác định việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên hình phạt đối với các bị cáo về hành vi phạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội không oan.
Nay bị cáo Trần Văn Nkháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy: Nam là người khởi xướng việc bắt giữ anh Tuấn để đòi nợ số tiền 150.000.000đ; chủ động mượn zalo của bị cáo Linh để kết bạn, lừa anh Tuấn ra Hà Nội, chọn địa điểm, phân công Linh đi đón anh Tuấn, thuê taxi chở Linh và anh Tuấn để Nam và đồng bọn tiếp cận, đánh và bắt giữ anh Tuấn, chọn địa điểm giam giữ anh Tuấn, phân công người trông giữ anh Tuấn... Do vậy, Nam là người tổ chức, cầm đầu, chủ mưu. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Nam trên mức khởi điểm là phù hợp và đã xem xét khoan hồng. Nay không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét kháng cáo của các bị cáo Phan Văn Quyền, Nguyễn Văn Đắc: Khi được Nam rủ tham gia bắt giữ anh Tuấn để đòi nợ đã đồng ý tham gia, giúp sức tích cực cho Nam, ngoài ra Quyền và Đắc còn có hành vi bắt giữ, trói, đánh, đe dọa anh Tuấn nên có vai trò thực hành tích cực, xâm phạm đến thân thể và quyền tự do của anh Tuấn. Vì vậy hình phạt 05 năm tù ở mức khởi điểm của khung hình phạt, thấp hơn hình phạt đối với Nam là phù hợp.
Xét kháng cáo của Nguyễn Quang Trường: Khi được Nam rủ tham gia bắt giữ anh Tuấn để đòi nợ Trường đã tham gia ngay từ đầu, giúp sức tích cực cho Nam; dùng nhà kho thuộc quyền quản lý của Trường làm nơi giam giữ anh Tuấn; cùng Nam, Quyền đưa anh Tuấn đến nhà của Quyền tiếp tục giam giữ. Nguyễn Quang Trường có nhân thân xấu về việc năm 2003 Trường bị TAND huyện Yên Phong xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng chỉ bị áp dụng hình phạt 42 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với Trường là thỏa đáng và đã xem xét đủ các tình tiết giảm nhẹ.
Nay không có thêm tình tiết gì mới để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo cũng như xin hưởng án treo của bị cáo Phan Văn Quyền, Nguyễn Văn Đắc và bị cáo Nguyễn Quang Trường; cần giữ nguyên quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo này.
Xét kháng cáo của bị cáo Trịnh Anh Tùng: Bị cáo là lái xe taxi, khi có khách gọi nên đã đưa xe đến đón các bị cáo nói trên; khi trên xe bị cáo Tùng mới biết việc các bị cáo chuẩn bị thực hiện hành vi bắt cóc anh Tuấn, bị cáo đã mặc nhiên tham gia, chở các bị cáo Trường, Linh về nhà kho nơi các bị cáo giam giữ anh Tuấn đến ngày hôm sau mới được bị cáo Đắc thanh toán tiền công. Bị cáo đã chở Đắc và anh Tuấn đi tự thú, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Tuy bị cáo có nhân thân xấu về việc năm 2009 Tùng bị TAND tỉnh Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; nhưng khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xác định, tính chất của hành vi và vai trò của bị cáo ngang bằng với bị cáo Trường và bị cáo Linh là chưa phù hợp và công bằng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm tài liệu mẹ vợ của bị cáo được tặng thưởng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục của Bộ trưởng Bộ giáo dục Đào tạo tặng năm 2016 được chính quyền địa phương xác nhận; đây là tài liệu mới. Ngoài ra bị cáo tích cực tham gia ủng hộ chống dịch Covid năm 2021 được chính quyền xác nhận, có danh sách ủng hộ cụ thể kèm theo với số tiền 13,8 triệu đồng. Đây là tình tiết tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự có trong hồ sơ nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng. Vì vậy cần chấp nhận kháng cáo, xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt mới phù hợp.
Đối với thời gian các bị cáo Trần Văn Nvà Phạm Văn Quyền đã chấp hành án theo quyết định của Bản án số 535/2020/HSPT ngày 30/10/2020 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và thời gian các bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam trong vụ án này đã được Tòa án cấp sơ thẩm quyết định trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù là đúng.
. Về án phí: Các bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo Trịnh Anh Tùng kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm a khoản 1, điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc; giữ nguyên các quyết định của Bản án hình sư sơ thẩm số 38A/2023/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đối với Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc. Cụ thể:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc, Trịnh Anh Tùng phạm tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Văn N5 (Năm) 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 08/5/2019 và thời gian chấp hành án từ ngày 24/12/2020 đến ngày 04/3/2022.
- Xử phạt bị cáo Phan Văn Quyền 5 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/02/2019 đến ngày 10/4/2019 và thời gian chấp hành án từ ngày 25/02/2021 đến ngày 04/11/2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đắc 5 (Năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 10/4/2019.
Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Trường 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 27/3/2019.
2. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trịnh Anh Tùng; sửa một phần quyết định của Bản án hình sư sơ thẩm số 38A/2023/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Cụ thể:
- Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trịnh Anh Tùng 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/01/2019 đến ngày 10/4/2019.
3. Về án phí: Các bị cáo Trần Văn Nam, Phan Văn Quyền, Nguyễn Quang Trường, Nguyễn Văn Đắc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Trịnh Anh Tùng không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Duy Nhiệm
Đặng Đình Lực
Nguyễn Vũ Đông
| Nơi nhận: - Vụ I - TANDTC; - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh; - Các bị cáo (theo địa chỉ); - Lưu HSVA, P.HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Đông |