vanban.org

Bản án 619/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 27/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Trương Long H (S) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trương Long H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2019. [2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Trương Long H (S) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 619/2019/HS-ST
Ngày 30-12-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Hng Ngọc

Bà Nguyễn Thị Nhạn

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Kim Hải - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 598/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 643/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Trương Long H (tên gọi khác S), sinh năm: 1999 tại tỉnh C. Nơi thường trú: Ấp L, xã H, huyện C, tỉnh C. Nơi tạm trú: Phòng trọ số 16, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Minh C và bà Hồ Trúc L; Vợ, con chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/9/2019, hiện đang bị tam giam tại nhà tạm giữ công an thành phố Biên Hòa (có mặt).

Bị hại: Ông Võ Nguyễn Duy Tr, sinh năm 1999. Địa chỉ: 792/3A khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1996. Địa chỉ: Khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh B (vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1963. Địa chỉ: 729/16 tổ 16, khu phố B, phường B, thị xã D, tỉnh B (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong H sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 27/3/2019 Trương Long H được Công ty môi giới việc làm Bảo Anh giới thiệu vào làm việc thời vụ tại Công ty Thái Bình Shoes, thuộc khu phố 4, phường Tân Vạn, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi tan ca, do không có tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định lấy trộm xe máy tại bãi xe của Công ty Thái Bình Shoes. Thực hiện ý định trên, H mang theo 01 chìa khóa xe máy đi đến bãi xe gần kho số 6 của Công ty với ý định dùng chìa khóa trên mở được xe nào thì lấy xe đó. Khi vào trong bãi xe H dùng chìa khóa trên cắm vào ổ khóa điện xe máy nhãn hiệu MINGXING biển số 61F8-4796 của anh Võ Nguyễn Duy Tr- là công nhân đang làm việc tại Công ty Thái Bình Shoes thấy xe sáng điện. H liền nổ máy và chạy xe ra khỏi cổng Công ty, khi H điều khiển xe đến khu công nghiệp Tân Đông Hiệp B, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương thì gặp bạn là Trần Chí Th, H nhờ Th bán chiếc xe máy mà H đang điều khiển thì Th đồng ý. Th dẫn H đến gặp anh Nguyễn Hoàng L, anh L đồng ý mua xe máy của H với giá 1.000.000 đồng và cho Th 300.000 đồng tiền công giới thiệu. Số tiền bán xe cho anh Th, H đã tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi sự việc xảy ra, anh Tr trình báo Công an phường Tân Vạn, thành phố Biên Hòa và Công an phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An. Ngày 28/3/2019, H bị Công an phường Tân Đông Hiệp mời về trụ sở làm việc. Tại đây, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đưa Công an phường Tân Đông Hiệp đến gặp Nguyễn Hoàng L thu hồi chiếc xe máy của anh Tr. Công an phường Tân Đông Hiệp đã lập H sơ chuyển công an phường Tân Vạn, Công an phường Tân Vạn chuyển H sơ cho Công an thành phố Biên Hòa xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu MINGXING biển số 61F8-4794, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Quá trình làm việc tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trương Long H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 202/TCKH-HĐĐG ngày 20/5/2019 của hội đồng định giá tài sản thành phố biên Hòa kết luận: 01 chiếc xe mô tô, gắn máy nhãn hiệu MINGXING biển số 61F8-4794 trị giá 3.750.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 624/CT-VKSBH, ngày 28 tháng 11 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Trương Long H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Trương Long H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 08 tháng tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, anh Võ Nguyễn Duy Tr nhận lại chiếc xe mô tô, gắn máy nhãn hiệu MINGXING biển số 61F8-4794, không có yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự.

Đối với Trần Chí Th có dấu hiệu phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, nhưng Th đã bỏ đi khỏi địa phương nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Biên Hòa tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Hoàng L khi mua chiếc xe máy của H, L khai không biết tài sản do H phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Biên Hòa không có căn cứ xử lý hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong H sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo Trương Long H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong H sơ vụ án. Qua đó, đã có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 27/3/2019, tại Công ty Thái Bình Shoes thuộc khu phố 4, phường Tân Vạn, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Trương Long H có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Võ Nguyễn Duy Tr 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu MINGXING biển số 61F8-4796 trị giá 3.750.000đ (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Hành vi nêu trên của Trương Long H là nguy hiểm cho xã hội và đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt vì không có tiền án, tiền sự. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa đã trả lại vật chứng cho anh Võ Nguyễn Duy Tr là chiếc xe mô tô, gắn máy nhãn hiệu MINGXING biển số 61F8-4794, anh Tr không có yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quan điểm đề nghị về tội danh truy tố đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Trương Long H (S) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trương Long H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2019.

[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trương Long H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ