- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Ông Nguyễn Giang N - Bà Lê Nguyễn Thị Thúy H1"
- Tòa quyết gì? 39, Điều 186, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 618/2021/HNGĐ-ST Ngày: 24/12/2021 V/v tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Thị Trịnh
2. Ông Lê Văn Ngọc
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký Tòa án nhân dân
quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 24 tháng 12 năm 2021 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Tân
Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 377/2021/TLST-HN ngày 10
tháng 6 năm 2021 về “tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly
hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 365/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày
30 tháng 11 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Giang N, sinh năm 1980
Địa chỉ: Căn 13.06D, lô R7, chung cư B, Phường C, thành phố Thủ Đức,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H và/ hoặc
ông Phùng Minh T1 theo Giấy ủy quyền ký ngày 10/5/2021 tại Văn phòng công
chứng Đông Thành Phố
Ông Nguyễn Thanh H (có mặt)
Ông Phùng Minh T1 (vắng mặt)
Bị đơn: Bà Lê Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: 111/4 Đường A, Phường D, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn ông Nguyễn Giang N trình
bày: Ông N và bà H1 là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký kết hôn. Quá trình
chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên đã thuận tình ly hôn theo
Quyết định giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn số 1124/2014/QĐHNGĐ-ST ngày 22/12/2014 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quyết định công nhận thuận tình ly hôn thì hai bên thỏa thuận giao con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Thanh H2, sinh ngày 18/8/2012 cho bà Nguyễn Thị Thúy H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giao 02 con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Yên H3, sinh ngày 01/3/2007 và Nguyễn Ngọc Thu H4, sinh ngày 02/4/2011 cho ông Nguyễn Giang N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, đến năm 2018 thì bà H1 không tiếp tục nuôi dưỡng trẻ Thanh H2 mà giao cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng cho đến nay. Sau khi giao trẻ Thanh H2 cho ông N nuôi dưỡng, bà H1 không đến thăm nom, thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn cùng với ông N và ông Nguyễn cũng không thể liên lạc được với bà H1. Ngày 10/11/2020 ông N nộp đơn yêu cầu tuyên bố mất tích với bà H1 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình và được giải quyết bằng Quyết định số 86/2021/QĐST-DS ngày 12/4/2021 tuyên bố bà H1 mất tích. Việc bà H1 bỏ đi gây ra nhiều khó khăn cho ông N trong việc thực hiện các thủ tục pháp lý liên quan đến trẻ Thanh H2 trong việc đi học cũng như trong sinh hoạt hàng ngày. Do đó, ông N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Ngọc Thanh H2, sinh ngày 18/8/2012 và không yêu cầu bà H1 cấp dưỡng nuôi con vì ông N đủ khả năng tài chính để nuôi con.
Bị đơn, bà Nguyễn Thị Thúy H1 vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án mời làm việc, hòa giải nên không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện nguyên đơn ông Nguyễn Thanh H trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là trẻ Nguyễn Ngọc Thanh H2, sinh ngày 18/8/2012 và không yêu cầu bà H1 cấp dưỡng nuôi con. Lý do, ông N xin thay đổi người trực tiếp nuôi con là do từ năm 2018 bà H1 đã mang trẻ Thanh H2 đến cho ông N chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến nay. Bà H1 sau khi giao con cho ông N nuôi dưỡng thì không đến thăm nom, chăm sóc con và hiện nay bỏ đi đâu không rõ, ông N không thể liên lạc được. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cũng như điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và học tập của con, nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Bị đơn, bà Nguyễn Thị Thúy H1 vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Pháp luật về tố tụng:
Ông Nguyễn Giang N tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau
khi ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy H1, bà H1 có nơi cư trú cuối cùng tại Quận
E nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo qui
định tại khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn, bà Nguyễn Thị Thúy H1 đã được Tòa án triệp tập hợp lệ đến lần
thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét
xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015.
Ông Phùng Minh T1 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin
xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T1 là phù
hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Pháp luật về nội dung:
Xét yêu cầu của ông Nguyễn Giang N yêu cầu được thay đổi và trực tiếp
nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Ngọc Thanh H2, sinh ngày 18/8/2012.
Qua diễn biến tại phiên tòa, phần trình bày, tranh luận tại phiên tòa và căn
cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy như
sau: Năm 2018 bà H1 giao trẻ Thanh H2 cho ông N trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng và không đến thăm nom con, ông N không liên lạc được với bà H1 nên
năm 2020 đã làm đơn yêu cầu tuyên bố bà H1 mất tích và được Tòa án chấp
nhận. Trong quá trình Tòa án giải quyết yêu cầu của ông N đã tống đạt hợp lệ
các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bà H1 vẫn không đến Tòa án làm việc và
trình bày ý kiến của mình. Hiện nay, ông N trực tiếp nuôi dưỡng ổn định trẻ
Thanh H2 từ năm năm 2018 và trẻ Thanh H2 có nguyện vọng được sinh sống
cùng ông N. Do đó, để đảm bảo sự phát triển về mặt thể chất lẫn điều kiện chăm
sóc, nuôi dưỡng, học tập của trẻ Thanh H2 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu của nguyên đơn là có căn cứ.
Do ông N không yêu cầu bà H1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử
không xem xét giải quyết.
(4) Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà H1 phải chịu là
300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 186, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2014;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Giang N:
Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Thanh H2, sinh ngày 18/8/2012 cho
ông Nguyễn Giang N trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông N về việc không yêu cầu bà H1 cấp
dưỡng nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có
thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc
con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng gia đình các bên không được cản trở người
không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy
định pháp luật Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Về án phí: Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng do
bà Nguyễn Thị Thúy H1 phải nộp.
Hoàn lại cho ông Nguyễn Giang N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là
300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0069523 ngày 27/5/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình.
3. Quyền kháng cáo:
Ông Nguyễn Giang N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Bà Nguyễn Thị Thúy H1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi
hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,
tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều
6, 7, 7a, 7b, và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân
sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP.HCM; - VKSND Q.Tân Bình; - Chi cục THADS Q.Tân Bình; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ VÀ ĐÓNG DẤU) Trần Thị Hồng Út |