- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T phạm tội "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 618/2020/HS-PT Ngày 19 tháng 10 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng
Các Thẩm phán:
Bà Mai Thị Tú Oanh
Ông Nguyễn Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quang Nhựt – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hừng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 291/2020/TLPT-HS ngày 15 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Lê Thanh T; Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2020/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo:
Lê Thanh T, sinh năm 1980 tại Tây Ninh; Nơi ĐKTIKTT và chỗ ở hiện nay: ấp 4, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K (Đã chết) và bà Nguyễn Thị V (Đã chết); có vợ là Tô Thị Y, sinh năm 1990 (đã ly hôn) và 02 con (lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/12/2019, chuyển tạm giam ngày 12/12/2019. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Huỳnh Thị Ph và Luật sư Trần Văn Đ. (có mặt)
- Bị hại: Chị Lương Ngọc M, sinh năm 1982 (đã chết);
Người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại:
Bà Tăng Thị H, sinh năm: 1951; Địa chỉ cư trú: ấp B1, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/. Anh Võ Duy T, sinh năm: 1978; địa chỉ cư trú: ấp 6, xã B, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
2/, Anh Lê Văn C, sinh năm: 1974; địa chỉ cư trú: ấp L1, xã L2, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
(Đại diện người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thanh T và chị Lương Ngọc M, ngụ ấp B1, xã P, huyện D, tỉnh Tây Ninh có quan hệ tình cảm yêu thương nhau. Khoảng 11 giờ ngày 08/12/2019, T điện thoại rủ chị M đi nhậu nhưng chị M không đi, T điện thoại cho chị M nhiều lần không được nên lấy xe mô tô biển số 70L1 -0585 đi tìm chị M. Khoảng 15 giờ cùng ngày, T gặp chị M đang nhậu tại nhà anh Nguyễn Hảo H, ngụ ấp L3, xã L2, huyện D, tỉnh Tây Ninh, cùng với anh Lê Văn C, Thái Công H1 và một số người quen của anh H. Khi thấy T, chị M ra ngoài nói chuyện và dẫn T vào nhà anh H nhậu chung, khoảng 20 phút sau thì nghỉ nhậu, tất cả đi về. Trong lúc nhậu, chị M có lấy điện thoại của anh C bỏ vào túi áo khoác, lúc ra về, chị M không tìm được chìa khóa xe mô tô nên điện thoại cho anh C, T phát hiện điện thoại trong túi áo khoác của chị M rung chuông nên lấy ra xem, sau đó cất vào túi quần của T rồi dẫn xe mô tô của chị M đến tiệm sửa xe mô tô gần đó để mở khóa. Trên đường dẫn xe mô tô của chị M đi sửa, chị M tiếp tục điện thoại cho anh C thì T bắt máy nói chuyện với chị M, qua nói chuyện T biết chị M có tình cảm với anh C. Sau khi để xe mô tô ở tiệm sửa xe, T quay lại nhà anh H lấy xe mô tô của T, kêu chị M lên xe T chở về nhưng chị M không đồng ý nên xảy ra cãi nhau.
Do bực tức và ghen tuông nên T nảy sinh ý định giết chị M. T đi đến tiệm tạp hóa của bà Huỳnh Thị Đ mua 1 cây liềm rồi quay lại gặp chị M đang đi bộ trước quán nhậu “LT”, thuộc ấp Lộc Tân, xã L2, huyện D, tỉnh Tây Ninh; T kêu chị M lên xe để chở về nhưng chị M vẫn không đồng ý; T dừng và xuống xe, dùng tay phải cầm liềm đi đến chỗ chị M đứng, đưa liềm vào cổ giật mạnh, chị M đưa 2 tay lên đỡ, T tiếp tục dùng tay trái nắm tay chị M còn tay phải cầm liềm đưa vào cổ chị M. T giật mạnh cây liềm cắt cổ chị M và lưỡi liềm tuột khỏi cán. T chụp lấy lưỡi liềm và xô chị M té ngã nằm nghiêng sang phải. T gắn lười liềm vào cán, tay trái nắm tóc chị M kéo ngửa mặt lên, tay phải cầm liềm đưa vào cổ chị M giật mạnh 1 nhát, thấy chị M nằm im bất động nên T cầm liềm bỏ đi, sau đó đến Công an xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh đầu thú.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1785/KL-KTHS ngày 18/12/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Bị hại Lương Ngọc M tử vong do sốc mất máu do vết thương vùng cổ trước bên trái làm đứt động mạch sống, do vật có cạnh sắc gây nên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2020/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2020, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Giết người”.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm e, m khoản 1 Điều 52; Điều 39 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh T tù chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/12/2019.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý các vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Ngày 08/6/2020, bị cáo Lê Thanh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Thanh T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với tính chất côn đồ, phạm tội đến cùng nên cần phải xử phạt nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo tù chung thân là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh T trình bày: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khắc phục một phần hậu quả cho gia đình bị hại; hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện khó khăn, mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên là có phần nặng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn quy định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án, các kết luận giám định, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Vào ngày 08/12/2019, do bực tức về chuyện tình cảm, bị cáo Lê Thanh T đã mua 01 cây liềm và tìm gặp chị Lương Ngọc M; khi gặp chị M, T dùng liềm đưa vào cổ chị M giật mạnh, chị M dùng tay chống đỡ được thì bị cáo dùng tay trái nắm chặt tay chị M, tay phải cầm liềm đưa vào cổ chị M giật mạnh, cắt cổ chị M; sau khi chị M ngã xuống đường thì bị cáo tiếp tục cắt thêm 01 nhát vào cổ chị M; hậu quả chị M tử vong.
Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã tước đoạt tính mạng của người bị hại. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong chuyện tình cảm, bị cáo sử dụng hung khí nguy hiểm tấn công bị hại; sau khi bị hại đã không còn khả năng chống cự nữa, bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự dã man, côn đồ, cố ý phạm tội đến cùng. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xử phạt bị cáo tù chung thân là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ nào mới, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
Từ những phân tích trên, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh T; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lê Thanh T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Thanh T.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2020/HS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về phần hình phạt.
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Giết người”.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm e, m khoản 1 Điều 52; Điều 39 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh T tù chung thân, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/12/2019. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Thanh T phải chịu 200.000 đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Các Thẩm phán
| Nguyễn Văn Minh Mai Thị Tú Oanh | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thanh Dũng |