- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn S - Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị hại bà Trương Thị H và giữ
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 617/2025/HS-PT Ngày: 10-7-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Cảnh
Các thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thành
Bà Vũ Thị Thu Thủy
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Dương Thị Thơm -
Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà
Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 436/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Trần Văn S do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2025/HS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, TP Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
TRẦN VĂN S, sinh ngày 30/10/1984 tại Hà Nội; ĐKHKTT và nơi
cư trú: Khu F, thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội (nay là: Thôn H, xã T, thành phố Hà Nội); nghề nghiệp: Lao động tư do; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P và bà Kiều Thị T; có vợ Trần Thu T1 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- Bản án số 100/2008/HSST ngày 29/8/2008, TAND huyện Thanh
Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 22 tháng tù về 02 tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
- Ngày 28/05/2024, Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính
mức phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Khiêu khích, xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác”;
- Ngày 31/05/2024, Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính
mức phạt 4.000.000 đồng về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân”;
- Ngày 11/12/2024, Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính
mức phạt 8.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/01/2025, hiện đang tạm giam tại
Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn S:
Ông Nguyễn Chí K - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành
phố H, có mặt.
* Bị hại có kháng cáo:
Ông Nguyễn Cảnh S1, sinh năm 1967 và bà Trương Thị H, sinh
năm 1975; nơi cư trú: Khu F, thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội (nay là: Thôn H, xã T, thành phố Hà Nội), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Gia đình của Trần Văn S và gia đình ông Nguyễn Cảnh S1, sinh năm
1967; Trú tại: Khu F, thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội là hàng xóm của nhau và thường xuyên xảy ra mâu thuẫn liên quan đến đất đai, mốc giới giữa hai gia đình.
Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 05/12/2023, Trần Văn S đi sang nhà
ông Nguyễn Cảnh S1, đứng ngoài cửa nhà ông S1 liên tục chửi bới. Sau đó, S dùng chân đạp và dùng gạch, đá nhặt được trên đường ném vào 02 bộ cửa xếp của nhà ông S1 gây hư hỏng 02 bộ cửa xếp. Thấy vậy, bà Trương Thị H (là vợ ông S1) đã gọi điện trình báo Công an xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội sự việc trên. Khi lực lượng Công an đến thì S dừng hành vi của mình và đi về nhà.
Ngày 27/02/2024, Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài
sản trong tố tụng hình sự huyện Đ có Kết luận định giá tài sản số 40/KL, kết luận: Công sửa chữa, vật liệu sửa chữa, thay thế để khôi phục lại tình trạng bạn đầu của tài sản trước khi bị hư hỏng tại thời điểm ngày 05/12/2023 là: 2.355.000 đồng.
Tại cơ quan Công an, Trần Văn S khai nhận hành vi phạm tội phù
hợp với tài liệu điêu tra, thu thập được.
Ngoài ra, giữa Trần Văn S và gia đình ông Nguyễn Cảnh S1 còn
nhiều lần xảy ra mâu thuẫn. Cụ thể:
- Ngày 23/11/2023, S đi từ nhà đến nhà ông S1, gặp ông S1 đang
đứng gần cửa ra vào nên đã chửi bới ông S1. Sau đó, S liền chạy ra ven đường nhặt được viên gạch (dạng nửa viên gạch lục) ném về phía ông S1 đang đứng trong nhà nhưng không trúng. S tiếp tục nhặt viên gạch thứ hai (dạng nửa viên gạch lục) ném về phía ông S1 cũng không trúng và không gây thiệt hại về người và tài sản.
- Ngày 02/12/2023, giữa S và anh Nguyễn Anh T2 (sinh năm 1993)
và anh Nguyễn Đức M (sinh năm 2001) đều là con ông Nguyễn Cảnh S1 xảy ra xô xát, đánh nhau. Hậu quả anh Nguyễn Anh T2 bị một vết thương tại vùng đùi trái. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định tỉ lệ tổn hại sức khỏe đối với anh T2. Ngày 18/03/2024, Trung tâm P1 có kêt luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 305/KLTTCT-TTPY kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Anh T2 tại thời điểm giám định ngày 12/03/2024 là 01%; Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích của anh Nguyễn Anh T2 do vật có cạnh sắc gây ra; Tại thời điểm giám định, vết thương đùi trái của anh T2 đã liền sẹo (đã được xử lý khâu vết thương) nên không xác định được chiều hướng vết thương.
Trong các ngày 03 và 08/12/2023, S đứng trước cửa nhà ông
Nguyễn Cảnh S1 tiếp tục có các hành vi chửi bới, đe dọa đối với gia đình ông S1.
* Vật chứng tạm giữ:
- Của ông Nguyễn Cảnh S1: 01 chiếc USB nhãn hiệu Kingston, màu
trắng bạc, bên trong có lưu trữ 07 đoạn video liên quan đến vụ án.
- Của anh Nguyễn Anh T2: 01 chiếc quần dài màu đen anh Nguyễn
Anh T2 mặc khi xảy ra xô sát với Trần Văn S.
Quá trình điều tra xác định: Trần Văn S đã điều trị nội trú tại Bệnh
viện T4 06 lần, đều được chuẩn đoán bị loạn thần do nhiều loại ma túy và chất tác động tâm thần khác, hoang tưởng chiếm ưu thế; tại Bệnh viện T5 hai lần, được chuẩn đoán bị rối loạn tâm thần và hành vi sau sử dụng nhiều loại ma túy.
Ngày 15/08/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ đã
ra Quyết định trưng cầu V tiến hành giám định pháp y tâm thần đối với Trần Văn S. Ngày 24/01/2025, V có văn bản ghi nhận quá trình giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 31, kết luận: Trước, trong khi phạm tội vào các ngày: 23/11/2023; 02/12/2023; 03/12/2023; 05/12/2023; 08/12/2023 và tại thời điểm giám định Trần Văn S có hội chứng nghiện nhiều loại ma túy. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã số F19.2; Tại các thời điểm trên, Trần văn S đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Đối với các vụ việc xảy ra trong các ngày: 23/11/2023, 03/12/2023,
05/12/2023 và 08/12/2023, S có hành vi, lời nói chửi bới, đe dọa gia đình ông Nguyễn Cảnh S1 nhưng gia đình ông S1 không hề sợ sệt, vẫn ăn ở, sinh hoạt bình thường. Do đó, hành vi của Trần Văn S không cấu thành tội “Đe dọa giết người”.
Đối với hành vi cố ý gây tích của Trần Văn S đối với anh Nguyễn
Anh T2 vào ngày 02/12/2023: Quá trình điều tra không có tài liệu chứng minh việc S đã sử dụng hung khí để gây thương tích cho anh T2 01% tỉ lệ tổn thương cơ thể. Anh T2 không đề nghị xử lý và không yêu cầu S phải bồi thường. Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Trần Văn S.
Đối với hành vi của anh Nguyễn Anh T2, anh Nguyễn Đức M cùng
đánh Trần Văn S vào ngày 02/12/2023: Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định thương tích đối với Trần Văn S nhưng S kiên quyết từ chối. Đến nay đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, vì vậy, Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xử lý đối với anh Nguyễn Anh T2 và anh Nguyễn Đức M.
Đối với 01 chiếc quần dài vải màu đen anh Nguyễn Anh T2 mặc khi
xảy ra xô sát với Trần Văn S: Ngày 27/02/2025, Cơ quan điều tra có Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc quần trên cho anh Nguyễn Anh T2.
Đối với 01 USB nhãn hiệu Kingston, màu trắng bạc, bên trong có
lựu trữ 07 đoạn video liên quan đến vụ án do ông Nguyễn Cảnh S1 giao nộp: Ông S1 không có đề nghị nhận lại chiếc USB trên. Vì vậy, chuyển kèm theo hồ sơ vụ án đên Tòa án nhân dân huyện Đông Anh để giải quyết theo thẩm quyền.
* Phần dân sự: Gia đình ông Nguyễn Cảnh S1 yêu cầu Trần Văn S
bồi thường thiệt hại số tiền tương ứng với kết quả của Hội đồng định giá tài sản kêt luận giá trị tài sản bị hư hỏng là 2.355.000 đồng và đề nghị xử lý S theo quy định của pháp luật.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2025/HS-ST ngày 03 tháng 4 năm
2025 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Trần Văn S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51
và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Văn S 08 (T3) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2025.
- Ngoài ra bản án còn tuyên về dân sự, xử lý vật chứng, án phí và
quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/4/2025 bị hại bà Trương Thị H có đơn kháng cáo đề nghị
hủy bản án, trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung về hành vi đe dọa giết người và giết người của bị cáo Trần Văn S.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình
đúng với nội dung bản án sơ thẩm đã quy kết, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo.
Bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với
bị cáo Trần Văn S với lý do bị cáo không ăn năn hối cải và đề nghị xem xét các hành vi đe dọa giết người và giết người của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi tóm tắt
nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét kháng cáo của bị hại đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự, bác kháng cáo của bị hại, không có cơ sở hủy án sơ thẩm về hành vi đe dọa giết người và giết người, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Văn S trình bày luận cứ bào chữa
cho rằng các hành vi hủy hoại tài sản Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính; hành vi xúc phạm danh dự đã được Cơ quan điều tra xử phạt hành chính; có hành vi đe dọa, giết người hay không thì Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính về hành vi này với mức phạt 8.000.000 đồng; mức hình phạt 08 tháng tù cấp sơ thẩm xử là phù hợp với bị cáo và đúng quy định của pháp luật. Luật sư đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án
đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị hại Trương Thị H đúng về mặt
chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn S tại phiên
tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, tang vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ ngày 05/12/2023, tại trước cửa nhà ông Nguyễn Cảnh S1 ở khu F, thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội, do mâu thuẫn giữa gia đình bị cáo và gia đình ông Nguyễn Cảnh S1 liên quan đến đất đai nên bị cáo đã dùng chân đạp và dùng gạch, đã nhặt được trên đường ném vào 02 bộ cửa xếp nhà ông S1 gây hư hỏng, gây tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 2.355.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn S đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị hại bà Trương Thị H đề nghị tăng hình phạt
thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án; xem xét nhân thân bị cáo có 01 tiền án đã được xóa; 03 tiền sự xẩy ra sau vụ án; bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khấn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo đã nhờ gia đình bôi thường toàn bộ thiệt hại về tài sản cho gia đình bị hại với số tiền là 2.355.000 đồng; bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải trực tiếp nuôi dưỡng 01 con dưới 18 tuổi mắc chứng bệnh tự kỷ đã áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Văn S mức án 08 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị hại không đưa ra được căn cứ nào mới, do vậy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị hại đề nghị tăng hình phạt, cần giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Đối với đề nghị của bị hại yêu cầu hủy án sơ thẩm để trả hồ sơ về tội
đe dọa giết người và giết người của bị cáo Trần Văn S thì Hội đồng xét xử nhận thấy sự việc xảy ra trong các ngày 23/11/2023, 03/12/2023, 05/12/2023 và 08/12/2023, S có hành vi, lời nói chửi bới, đe dọa gia đình ông Nguyễn Cảnh S1 song không đủ căn cứ xác định gia đình ông S1 lo lắng, sợ sệt mà gia đình vẫn ăn ở, sinh hoạt bình thường nên không đủ cấu thành của tội “Đe dọa giết người”. Đối với hành vi cố ý gây tích của Trần Văn S đối với anh Nguyễn Anh T2 vào ngày 02/12/2023 thì không có tài liệu chứng minh việc bị cáo S đã sử dụng hung khí để gây thương tích cho anh T2 01% tỉ lệ tổn thương cơ thể nên không đủ cấu thành của tội “Giết người”. Do vậy không có căn cứ để hủy án sơ thẩm để trả hồ sơ về tội “Đe dọa giết người” và tội “Giết người” đối với bị cáo Trần Văn S nên bác kháng cáo của bị hại bà Trương Thị H.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật.
Bị cáo không có kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình
sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại bà Trương Thị H và giữ
nguyên bản án sơ thẩm:
Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn S 08 (T3) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2025 về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật
tố tụng Hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trần Văn S không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội; - Tòa án nhân dân huyện Đông Anh; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh; - Công an huyện Đông Anh; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Ngọc Cảnh |