vanban.org

Bản án 617/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/09/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phạm Công T phải chịu n phí hông có gi ngạch là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Án phí có gi ngạch là: 117.550.628 đồng (một trăm mười bảy triệu năm trăm năm mươi ngàn s u trăm hai mươi t m đồng). Ông Trần Văn L và Bà Phạm Thị Thu T phải chịu n phí: 39.606.000 đồng (ba mươi chín triệu s u trăm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Trần Văn L , Phạm Thị Thu T - ông Phạm Công T"
  • Tòa quyết gì? Án phí dân sự sơ thẩm:
  • Căn cứ chính? Điều 108 Bộ luật Tố t ng dân sự; Điều 129 Bộ luật Dân sự; Điều 137 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản n số: 617/2022/DS-PT
Ngày: 28-9-2022
V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử d ng đất, tranh chấp
hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Các Thẩm phán:

Bà Phan Thị Tú Oanh

Bà Phạm Thị Kim

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Quyện - Thư T a n nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Tuấn - Kiểm s t viên.

Trong các ngày 6, 21 và 28 tháng 9 năm 2022 tại Tr s T a n nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công hai v n th l số: 239/2022/TLPT-DS ngày 22 th ng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất, tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản n dân sự sơ thẩm số: 190/2022/DS-ST ngày 31/5/2022 của T a án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh bị h ng c o.

Theo Quyết định đưa v n ra xét xử phúc thẩm số: 4205/2022/QĐPT-DS ngày 01/8/2022, Quyết định tạm ngừng phiên t a phúc thẩm số: 11749/2022/QĐPT - DS ngày 06/9/2022, gi a c c đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn L, sinh năm 1968

Bà Phạm Thị Thu T, sinh năm 1972

Cùng địa chỉ: C12/5 ấp Q, xã E, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông D, sinh năm 1985, địa chỉ liên hệ: 131/3 R, phường T, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 05/9/2022).

- Bị đơn: Ông Phạm Công T, sinh năm 1975

Địa chỉ: 36/8 U, Phường O, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1/Ông Nguyễn Tài T1, sinh năm 1975 Địa chỉ: 5/2 đường số L, hu phố 11, phường V, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. 2/Bà Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1972 3/Ông Nguyễn Quang N, sinh năm 1970 Cùng địa chỉ: 48B T, phường U, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. 4/Bà Trần Thị Thúy L, sinh năm 1982 Địa chỉ: 36/8 U, Phường O, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. 5/Bà Phạm Thị K, sinh năm 1982 Địa chỉ: 5/2 đường số L, hu phố D, phường V, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. 6/Văn ph ng Công chứng X có ông Đoàn Thanh H– Trư ng Văn ph ng là người đại diện theo ph p luật. Địa chỉ: 526-528 S, Phường O, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Người kháng cáo: Ông Trần Văn L và Bà Phạm Thị Thu T. (Ông D, ông T, ông N có mặt; ông T1, bà K, bà M, bà L, ông H đại diện Văn ph ng Công chứng X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn h i iện và lời hai trong qu trình giải quyết v án ông Trần Văn L, bà Phạm Thị Thu T là nguyên đơn ủy quyền cho ông D trình bày: Nguồn gốc diện tích đất 1629,8m2, thửa 195, tờ bản đồ 16, tại xã E, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh của vợ chồng ông L, bà T theo giấy chứng nhận quyền sử d ng đất quyền s h u nhà và tài sản h c gắn liền với đất số: CH02938 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 11/9/2012. Do cần vốn làm ăn nên ông L có gặp ông T để vay tiền, hi vay tiền ông T ra điều iện muốn vay tiền thì vợ chồng ông L phải ký hợp đồng công chứng chuyển nhượng quyền sử d ng đất diện tích 1629,8m2 tại xã E, huyện B cho ông T. Sau hi trả đủ tiền vốn và lãi thì hai bên sẽ ra văn ph ng công chứng hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất đã . Vợ chồng ông L, bà T vay tiền làm 2 lần: Lần 1: Ngày 06/02/2012, nguyên đơn vay số tiền 400.000.000 đồng, tiền lãi 20.000.000 đồng/tháng, bằng hình thức hai bên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất tại công chứng tại Ph ng Công chứng B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 19/4/2012 tại Ph ng Công chứng B, các bên ký hợp đồng công chứng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất nêu trên. Vợ chồng ông L, bà T đã trả đủ tiền gốc và lãi cho ông T. Hợp đồng này đã hoàn tất và ông L, bà T hông tranh chấp gì trong v n này.

Lần 2: Vài th ng sau, do nhu cầu cần tiền làm ăn tiếp nên vợ chồng ông L lại liên hệ ông T vay số tiền 400.000.000 đồng, tiền lãi 20.000.000 đồng/th ng, c c bên thực hiện hợp đồng vay mượn bằng hình thức hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất như lần 1, c thể: ngày 13/10/2012 tại Văn phòng Công chứng X, ông L, bà T và ông T ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất 1629,8m2, thửa 195, tờ bản đồ 16, tại xã E, huyện B với gi là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng). Hai bên không thỏa thuận thời gian c thể trả tiền, khi nào có tiền trả tiền gốc thì sẽ hợp đồng hủy hợp đồng công chứng chuyển nhượng quyền sử d ng đất. Hàng tháng, vợ chồng ông L vẫn trả tiền lãi đầy đủ cho ông T. Tuy nhiên, trong lúc ông L vẫn trả tiền lãi thì ngày 13/02/2014 ông T đã làm thủ t c sang tên quyền sử d ng đất cho ông T.

Ngay sau đó, ông L liên hệ ông T để đ i lại quyền sử d ng đất nêu trên nhưng ông T không trả. Ngày 14/8/2015 ông L làm đơn tố c o ông T đến cơ quan công an nhưng Cơ quan công an hướng dẫn ông L làm đơn h i iện tranh chấp tại T a n.

Sau đó, ngày 18/01/2016 ông T tiếp t c sang nhượng quyền sử d ng đất cho ông Nguyễn Tài T1. Ngày 15/10/2018, vợ chồng ông T1 tiếp t c chuyển nhượng lại cho bà Nguyễn Thị Kim M, ông Nguyễn Quang N.

Do đó, ông L, bà T h i iện yêu cầu T a n giải quyết:

1/Hủy hợp đồng sang nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 gi a vợ chồng ông L và ông T vì giao dịch vô hiệu do giả tạo và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Hủy hợp đồng sang nhượng quyền sử d ng đất gi a ông T và ông T1, hủy hợp đồng sang nhượng quyền sử d ng đất gi a ông T1 và bà M.

2/Hủy Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất mang tên ông T, ông T1, bà M.

Ngày 04/4/2022 và tại phiên t a sơ thẩm, ông L, bà T có đơn thay đổi yêu cầu h i iện, c thể yêu cầu T a n giải quyết:

1/Hủy hợp đồng sang nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 gi a vợ chồng ông L, bà T và ông T vì giao dịch vô hiệu do giả tạo và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

2/Buộc ông T bồi thường Gi trị quyền sử d ng đất đối với giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số BS 657955 cấp ngày 13/02/2014, cập nhật ngày 15/10/2018 thuộc thửa số 195, tờ bản đồ số 16, diện tích 1629,8m2 tương ứng số tiền 9.550.628.000 đồng (chín tỷ năm trăm năm mươi triệu s u trăm hai mươi t m ngàn đồng) theo chứng thư thẩm định gi số 02 ngày 06/12/2021.

Rút yêu cầu về việc hủy hợp đồng sang nhượng quyền sử d ng đất gi a ông T và ông T1, hủy hợp đồng sang nhượng quyền sử d ng đất gi a ông T1 và bà M, Hủy Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất mang tên ông T, ông T1, bà M.

Bị đơn là ông Phạm Công T trình bày: Ông T x c nhận có cho ông L vay tiền một lần tại Ph ng Công chứng B, Thành phố Hồ Chí Minh, vay số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất 3%/th ng (hai bên có làm giấy vay tiền, sau hi thực hiện xong thì đã xé bỏ nên hông thể cung cấp cho T a n). Ông hông nhớ đã nhận bao nhiêu tiền lãi từ nguyên đơn. Để vay tiền thì ông yêu cầu ông L ký hợp đồng giả c ch về việc chuyển nhượng quyền sử d ng đất diện tích 1629,8m2, thửa số 195, tờ bản đồ 16, tại xã E, huyện B. Sau đó, ông L đã trả đủ tiền gốc và lãi cho ông nên hai bên đã hợp đồng hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất nêu trên. Một thời gian sau, ông L cần tiền và liên hệ với ông T yêu cầu muốn chuyển nhượng cho ông T diện tích đất 1629,8m2, thửa số 195, tờ bản đồ 16, tại xã E, huyện B. Ông T đồng mua với gi là 600.000.000 đồng (s u trăm triệu đồng) nhưng ông L yêu cầu hi ký hợp đồng công chứng thì chỉ ghi giá chuyển nhượng là 400.000.000 đồng, c n 200.000.000 đồng ông T đưa tiền mặt trực tiếp cho ông L, ông L nói ghi như vậy để giấu vợ, lấy tiền chênh lệch xài riêng. Hai bên có làm giấy giao nhận tiền ngày 13/10/2012 với nhau. Sau đó, hai bên đồng ra Văn ph ng Công chứng X ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất. Ông T đã giao đủ cho ông L số tiền 600.000.000 đồng và nhận đất. Ngày 13/02/2014 ông T làm thủ t c cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất mang tên ông T và năm 2015 ông chuyển nhượng cho ông T1 với gi 800.000.000 đồng (t m trăm triệu đồng) nhưng chỉ ghi trong hợp đồng công chứng giá là 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) nhằm giảm thuế. Ông T hẳng định việc chuyển nhượng quyền sử d ng đất gi a ông T và vợ chồng ông L, bà T là sự thật nên ông hông đồng với yêu cầu h i iện của nguyên đơn. Ngoài ra, ông T yêu cầu T a n p d ng thời hiệu để đình chỉ giải quyết v n. Ngày 04/04/2022, nguyên đơn thay đổi yêu cầu h i iện. Với yêu cầu h i iện của nguyên đơn, ông T hông đồng , đề nghị Hội đồng xét xử hông chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ngoài ra, ông hông có yêu cầu gì khác. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là bà Trần Thị Thúy L trình bày: Bà là vợ của ông T, bà x c nhận lời trình bày của ông T là đúng, đây là tài sản chung của hai vợ chồng, bà thống nhất với iến của ông T, hông bổ sung thêm vấn đề gì. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là ông Nguyễn Tài T1 trình bày: Vào năm 2015 ông cùng vợ chồng ông N, bà M hùn tiền với nhau để chuyển nhượng diện tích 1629,8m2 đất, thửa 195, tờ bản đồ 16, tại xã E, huyện B của ông T với gi 2.100.000.000 đồng (hai tỷ một trăm triệu đồng), tỉ lệ hùn mỗi bên là 50%, mỗi bên góp 1.050.000.000 đồng (một tỷ hông trăm năm mươi triệu đồng). Ngày 15/10/2018, vợ chồng ông chuyển nhượng lại phần góp vốn 50% với gi 4.500.000.000 đồng (bốn tỷ năm trăm triệu đồng) cho vợ chồng ông N, bà M theo hình thức chuyển nhượng quyền sử d ng đất, hai bên đã nhận đủ tiền và giao đất. Việc chuyển nhượng quyền sử d ng đất của c c bên là đúng quy định nên ông hông đồng với yêu cầu h i iện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là bà Phạm Thị K trình bày: Bà là vợ của ông T1, bà thống nhất và đồng với iến của ông T1.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là ông Nguyễn Quang N trình bày: Vào năm 2015, vợ chồng ông cùng ông T1 có nhận chuyển nhượng 1629,8m2 đất thuộc thửa 195, tờ bản đồ 16, tại xã E, huyện B của ông T với gi 2.100.000.000 đồng, tỷ lệ hùn mỗi bên là 50%, mỗi bên góp 1.050.000.000 đồng. Do làm ăn xa nên vợ chồng ông đồng để ông T1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử d ng đất. Ngày 17/9/2018, vợ chồng ông T1 cần vốn làm ăn nên chuyển nhượng lại phần góp vốn 50% với giá 4.500.000.000 đồng theo hình thức chuyển nhượng quyền sử d ng đất, ông T1 đã nhận đủ tiền và giao đất cho vợ chồng ông quản l , sử d ng. Hiện nay, vợ ông là bà M đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử d ng đất. Việc chuyển nhượng quyền sử d ng đất của c c bên là đúng quy định nên ông hông đồng với yêu cầu h i iện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là bà Nguyễn Thị Kim M trình bày: Bà M là vợ ông N, bà đồng và thống nhất với iến của ông N.

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là Văn ph ng Công chứng X có ông Đoàn Thanh H đại diện theo ph p luật trình bày: Việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 gi a vợ chồng ông L, bà T và ông T đúng theo quy định của ph p luật. Phía Văn ph ng công chứng hông có iến gì, đề nghị T a n giải quyết v n theo quy định của ph p luật.

Tại bản n dân sự sơ thẩm số: 190/2022/DS-ST ngày 31/5/2022 của T a án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

1.Không chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng sang nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 gi a vợ chồng ông L và ông Phạm Công T; Buộc ông T bồi thường gi trị quyền sử d ng đất theo chứng thư thẩm định gi số 02 ngày 06/12/2021 là 9.550.628.000 đồng.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu: Hủy bỏ hợp đồng sang nhượng quyền sử d ng đất gi a ông Phạm Công T và ông Nguyễn Tài T1; Hủy bỏ hợp đồng sang nhượng quyền sử d ng đất gi a ông Nguyễn Tài T1 và bà M. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất mang tên ông Phạm Công T; Hủy giấy chứng nhận quyền sử d ng đất mang tên ông Nguyễn Tài T1 và hủy giấy chứng nhận quyền sử d ng đất mang tên bà Nguyễn Thị Kim M.

2.Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất số 018666/HĐ-CNQSDĐ ngày 13/10/2012 được công chứng b i Văn ph ng Công chứng X có hiệu lực ph p luật.

Ngoài ra, bản n sơ thẩm c n tuyên về chi phí tố t ng, án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành n của c c đương sự.

Ngày 03/6/2022, nguyên đơn là ông Trần Văn L, bà Phạm Thị Thu T h ng c o toàn bộ nội dung bản n dân sự sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản n sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn. Tại phiên t a phúc thẩm: C c đương sự hông thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết v n. Tại phiên t a phúc thẩm ngày 06/9/2022, ông D đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông T, ông N thống nhất đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành trưng cầu thẩm định gi đối với diện tích 1629,8m2 đất, thuộc thửa 195, tờ bản đồ 16, tại xã E, huyện B vào thời điểm th ng 10/2012. Theo Chứng thư Thẩm định giá số: 0260922/CT-TV ngày 12/9/2022 do Công ty Cổ phần Định gi và Đầu tư Kinh doanh Bất động sản T cung cấp gi trị thửa đất tranh chấp theo gi thị trường thời điểm th ng 10/2012 là 3.135.629.000 đồng (ba tỷ một trăm ba mươi lăm triệu s u trăm hai mươi chín ngàn đồng). C c đương sự đều hông có iến gì đối với gi thẩm định nêu trên. Nguyên đơn ông L, bà T ủy quyền cho ông D trình bày: Nguyên đơn gi nguyên yêu cầu h i iện, gi nguyên nội dung đơn h ng c o ngày 03/6/2022 đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản n sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu h i iện của nguyên đơn. L do h ng c o do hợp đồng chuyển nhượng ngày 13/10/2012 gi a vợ chồng ông L, bà T và ông T là hợp đồng giả tạo. Thực chất, vợ chồng ông L vay ông T số tiền 400.000.000 đồng, hàng th ng trả lãi 20.000.000 đồng. Điều này thể hiện gi chuyển nhượng trong hợp đồng có sự chênh lệch rất lớn đối với gi thẩm định theo chứng thư thẩm định gi tại thời điểm chuyển nhượng. Ông L và bà T không tiến hành bàn giao đất cho ông T quản l , sử d ng. Tuy nhiên, ông T tự đi làm thủ t c sang tên mình và chuyển nhượng quyền sử d ng đất cho ông Nguyễn Tài T1. Do vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất gi a ông L, bà T và ông T là vô hiệu. Ông đề nghị cấp phúc thẩm tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 gi a vợ chồng ông L, bà T và ông T vô hiệu do giả tạo, buộc ông T phải hoàn trả cho ông L, bà T gi trị quyền sử d ng đất tranh chấp tương ứng số tiền là 9.550.628.000 đồng (chín tỷ năm trăm năm mươi triệu s u trăm hai mươi t m ngàn đồng) theo chứng thư thẩm định gi số 02 ngày 06/12/2021 của Công ty TNHH Thẩm định gi và Gi m định C, ngoài ra hông c n yêu cầu gì khác. Về giải quyết hợp đồng vay tài sản gi a ông L, bà T và ông T. Vợ chồng ông L, bà T đồng thanh to n cho ông T số tiền vay 400.000.000 đồng và tiền lãi từ hi vay mượn cho đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất là 13,5%/năm. Bị đơn ông T trình bày: Ông hông đồng toàn bộ yêu cầu h ng c o của nguyên đơn, đề nghị cấp phúc thẩm gi nguyên bản n sơ thẩm do việc chuyển nhượng quyền sử d ng đất gi a vợ chồng ông L và ông đã được công chứng, chứng thực đúng theo quy định của ph p luật. Sau hi làm thủ t c sang tên ông, ông đã chuyển nhượng cho ông T1 đúng theo quy định của ph p luật. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan là ông N trình bày: Việc chuyển nhượng quyền sử d ng đất của vợ chồng ông và ông T1 là đúng quy định của ph p luật. Ông hông đồng toàn bộ yêu cầu h ng c o của nguyên đơn, đề nghị cấp phúc thẩm gi nguyên bản n sơ thẩm.

Đại diện Viện Kiểm s t nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ph t biểu, đề nghị:

Từ hi th l v n cho đến hi có quyết định đưa v n ra xét xử, Thẩm ph n thực hiện đúng theo quy định của ph p luật và tại phiên t a, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015. Tại phiên t a c c đương sự chấp hành đúng theo quy định ph p luật.

Về nội dung: Căn cứ vào c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v n và lời trình bày của đương sự, có đủ cơ s x c định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 gi a vợ chồng ông L, bà T và ông T là vô hiệu do giả tạo.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất gi a c c bên là vô hiệu do giả tạo. Buộc ông T phải hoàn trả gi trị quyền sử d ng đất cho vợ chồng ông L, bà T tương ứng số tiền là 9.550.628.000 đồng (chín tỷ năm trăm năm mươi triệu s u trăm hai mươi t m ngàn đồng) theo chứng thư thẩm định gi số 02 ngày 06/12/2021.

Về hợp đồng vay tài sản gi a ông L, bà T và ông T. Vợ chồng ông L, bà T phải thanh to n cho ông T số tiền vay 400.000.000 đồng và tiền lãi từ hi vay mượn cho đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất theo quy định.

Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ hoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015 sửa bản n dân sự sơ thẩm số:190/2022/DS-ST ngày 31/5/2022 của T a n nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo hướng chấp nhận yêu cầu h ng c o của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu c c tài liệu có trong hồ sơ v n được thẩm tra tại phiên t a và căn cứ vào ết quả tranh t ng, tranh luận tại phiên t a, iến ph t biểu của Viện Kiểm s t, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hình thức và thời hạn h ng c o: Đơn h ng c o ngày 03/6/2022 của nguyên đơn c n trong hạn luật định nên hợp lệ.

Về sự vắng mặt của c c đương sự: Ông T1, bà K, bà M, bà L và Văn phòng Công chứng X có ông Đoàn Thanh H là người đại diện theo ph p luật vắng mặt tại phiên t a và đều có đơn đề nghị T a n xét xử vắng mặt. Căn cứ vào hoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015, T a n tiến hành xét xử vắng mặt c c đương sự theo quy định.

Về quan hệ ph p luật tranh chấp:

Nguyên đơn h i iện yêu cầu T a n tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 gi a c c bên vô hiệu do giả tạo, hợp đồng bị che giấu là hợp đồng vay tài sản. Cấp sơ thẩm đã thu thập chứng cứ, nhận định, xem xét về hợp đồng vay tài sản nhưng ghi thiếu quan hệ ph p luật tranh chấp là hợp đồng vay tài sản. Do vậy, cấp phúc thẩm bổ sung cho đầy đủ quan hệ ph p luật tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất, Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. [4] Về p d ng luật nội dung: C c giao dịch dân sự gi a nguyên đơn và bị đơn được thực hiện vào năm 2012, là thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực ph p luật nên phải p d ng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và c c văn bản ph p luật liên quan để giải quyết. Cấp sơ thẩm nhận định giao dịch gi a c c đương sự có nội dung và hình thức phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015 nên căn cứ điểm b hoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 và p d ng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết v n này là không chính x c. Vì theo quy định tại điểm b hoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì giao dịch dân sự chưa được thực hiện hoặc đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì áp d ng quy định của bộ luật này. Giao dịch dân sự gi a ông L, bà T và ông T đã được thực hiện xong nên theo quy định tại điểm c hoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì p d ng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 để giải quyết. [5] Về nội dung: [ 5.1] Nguyên đơn là ông L, bà T h ng c o toàn bộ nội dung bản n dân sự sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản n sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn vì cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 gi a vợ chồng ông L, bà T và ông T giả tạo, thực chất ông T cho ông L vay số tiền 400.000.000 đồng, lãi suất 20.000.000 đồng/th ng. Xét, căn cứ vào c c tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v n: Ngày 13/10/2012 tại Văn ph ng Công chứng X, ông L, bà T và ông T hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất số công chứng: 018666 chuyển nhượng diện tích 1629,8m2 đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 195, tờ bản đồ 16, tại xã E, huyện B với gi chuyển nhượng quyền sử d ng đất là 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng). Nguyên đơn cho rằng thực chất nguyên đơn vay của ông T số tiền 400.000.000 đồng và hai bên thống nhất hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất giả c ch để đảm bảo hoản vay, hi nào nguyên đơn trả đầy đủ tiền cho ông T thì hai bên sẽ tiến hành hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất. Ngược lại, bị đơn cho rằng thực tế hai bên hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất nêu trên với gi chuyển nhượng là 600.000.000đồng (s u trăm triệu đồng), trong đó 400.000.000 đồng ông giao cho vợ chồng ông L, bà T có biên nhận giao tiền ký ngày 13/10/2012, c n số tiền 200.000.000 đồng ông T đưa trực tiếp cho ông L hông có giấy tờ, chứ hông phải vay mượn như ông L, bà T trình bày. Xét thấy, gi chuyển nhượng quyền sử d ng đất ghi trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 thấp hơn nhiều so với gi thị trường vào thời điểm chuyển nhượng. Tại chứng thư thẩm định gi số: 0260922/CT-TV do Công ty Cổ phần Định gi và Đầu tư Kinh doanh Bất động sản T cung cấp thì gi trị thửa đất tranh chấp theo gi thị trường vào th ng 10/2012 là 3.135.629.000 đồng (ba tỷ một trăm ba mươi lăm triệu s u trăm hai mươi chín ngàn đồng), trong khi giá chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng ngày 13/10/2012 gi a c c bên là 400.000.000 đồng. Theo bị đơn trình bày hai bên thỏa thuận gi chuyển nhượng là 600.000.000 đồng nhưng phía nguyên đơn hông thừa nhận và bị đơn hông cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình.

Căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 thì nguyên đơn có nghĩa v nộp thuế thu thập c nhân. Theo nguyên đơn trình bày: do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất là hợp đồng giả c ch nên không làm giấy ủy quyền cho bị đơn nộp thuế, hông bàn giao đất cho bị đơn quản l , sử d ng. Đến tháng 02/2014, ông T tự đi làm thủ t c nộp thuế thu nhập c nhân của ông L và làm thủ t c sang tên quyền sử d ng đất cho ông T. Điều này phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v n thể hiện ngày 08/01/2014 ông T đi nộp thuế thu nhập c nhân thay cho ông L, bà T mà không có sự ủy quyền của ông L, bà T. Ông T cũng hông có chứng cứ chứng minh về việc bàn giao đất gi a hai bên. C c bên đương sự trong v n đều x c định diện tích đất tranh chấp là đất trống và đến năm 2016 ông N mới tiến hành làm hàng rào B40 rào quanh hu đất.

Mặt h c, giấy nhận tiền ngày 13/10/2012 có nội dung: “ ông Trần Văn L có nhận số tiền là 400.000.000 đồng của ông Phạm Công T, đã nhận đủ”. Như vậy, trong biên nhận ngày 13/10/2012 hông có nội dung nào ghi đây là số tiền nhận chuyển nhượng theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất nêu trên.

Ngoài ra, vào tháng 08/2015, nguyên đơn có gửi đơn tố c o ông T về hành vi chiếm đoạt tài sản đến cơ quan công an. Sau hi nghiên cứu nội dung đơn cùng c c tài liệu èm theo, Văn phòng Cơ quan cảnh s t điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh xét thấy v việc của ông L là tranh chấp dân sự và ra thông b o số 1492 ngày 30/9/2015 với nội dung trả đơn cùng toàn bộ hồ sơ tài liệu kèm theo, hướng dẫn đương sự h i iện tại T a n.

Từ nh ng căn cứ, phân tích, nhận định nêu trên, xét thấy phía nguyên đơn cho rằng hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 là giả c ch, để đảm bảo cho hoản vay 400.000.000 đồng là có cơ s . Tuy nguyên đơn hông cung cấp được giấy vay tiền, chứng cứ trả lãi nhưng căn cứ vào nh ng chứng cứ nêu trên, có đủ cơ s x c định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 gi a ông L, bà T và ông T là giả tạo.

Hợp đồng bị che giấu là hợp đồng vay tài sản số tiền 400.000.000 đồng.

Tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Khi c c bên x c lập giao dịch dân sự một c ch giả tạo nhằm che giấu một giao dịch h c thì giao dịch giả tạo vô hiệu, c n giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này”.

Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 lập tại Văn ph ng Công chứng X gi a ông L, bà T và ông T là giao dịch dân sự giả tạo nên bị vô hiệu theo quy định tại Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2005. Hợp đồng vay tài sản số tiền 400.000.000 đồng gi a vợ chồng ông L, và T và ông T có hiệu lực. Theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: “1.Giao dịch dân sự vô hiệu nên hông làm ph t sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa v dân sự của c c bên ngay từ thời điểm x c lập. 2.Khi giao dịch vô hiệu thì các bên hôi ph c lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau nh ng gì đã nhận, nếu hông hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền...” [5.2] Đối với số tiền vay 400.000.000 đồng.Tại phiên t a phúc thẩm, đại diện nguyên đơn đồng thanh to n cho ông T số tiền vay 400.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 13/10/2012 đến ngày 31/5/2022 (ngày xét xử sơ thẩm), theo mức lãi suất 13,5%/năm. Xét thấy, nguyên đơn đồng trả tiền lãi theo mức lãi suất 13,5%/năm tương đương 1,125 %/th ng là có lợi cho bị đơn nên ghi nhận. Tiền lãi từ ngày 13/10/2012 đến ngày 31/5/2022 là 115 th ng 18 ngày: 400.000.000 đồng x 1,125%/tháng x 115 tháng 18 ngày = 520.200.000 đồng. Tổng cộng số tiền vốn và lãi ông L, bà T phải thanh to n cho ông T là: 400.000.000 đồng (vốn) + 520.200.000 đồng (lãi) = 920.200.000 đồng. [5.3] Theo quy định về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì các bên hoàn trả cho nhau nh ng gì đã nhận, nếu hông hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền. Phía bị đơn ông T phải giao trả lại diện tích 1629,8m2đất thuộc thửa 195, tờ bản đồ 16, tại xã E, huyện B cho ông L, bà T.Tuy nhiên, ông T đã chuyển nhượng quyền sử d ng đất cho ông T1 và ông T1 đã chuyển nhượng cho ông N, bà M, hiện nay bà M đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất và đang quản l , sử d ng đất. Phía ông L, bà T chỉ yêu cầu ông T phải hoàn trả gi trị quyền sử d ng đất tranh chấp bằng tiền là có cơ s . Theo chứng thư thẩm định gi số 02 ngày 06/12/2021 của Công ty TNHH Thẩm định gi và Gi m định C cung cấp gi trị quyền sử d ng đất tranh chấp là 9.550.628.000 đồng. Do vậy, buộc ông T phải hoàn trả cho ông L, bà T số tiền 9.550.628.000 đồng (chín tỷ năm trăm năm mươi triệu s u trăm hai mươi t m ngàn đồng) là gi trị quyền sử d ng diện tích 1629,8m2 đất, thuộc thửa đất số 195, tờ bản đồ 16, tại xã E, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh mà hai bên đã chuyển nhượng là có cơ s chấp nhận. [5.4] Căn cứ theo hoản 1 Điều 108 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015 quy định: “Việc đ nh gi chứng cứ phải h ch quan, toàn diện, đầy đủ và chính x c”. T a n cấp sơ thẩm chưa tiến hành định gi tài sản tranh chấp tại thời điểm chuyển nhượng mà theo quy định tại hoản 3 Điều 402 Bộ luật Dân sự năm 2005, gi chuyển nhượng là một trong nh ng điều hoản chủ yếu của hợp đồng dân sự. Mặt h c, lời hai và trình bày về giá chuyển nhượng của c c đương sự có sự chênh lệch rất nhiều gi a gi ghi trên hợp đồng công chứng và gi thực tế chuyển nhượng nhưng cấp sơ thẩm lại nhận định cho rằng xã E, huyện B là địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh nên việc bất động sản tăng gi nhanh và cao là nhận định hông có cơ s . Cấp sơ thẩm nhận định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất gi a vợ chồng ông L, bà T và ông T được Văn ph ng Công chứng X chứng nhận ngày 13/10/2012 và cho rằng ông L hông cung cấp được chứng cứ về việc vay tiền, trả lãi nên hông chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn là hông xem xét, đ nh gi chứng cứ khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính x c.

Về chi phí tố t ng: nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ nên không xem xét, giải quyết.

Từ nh ng phân tích và viện dẫn ph p luật nêu trên, xét thấy yêu cầu h ng c o của nguyên đơn là có cơ s chấp nhận.

Căn cứ vào hoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử sửa bản n dân sự sơ thẩm số: 190/2022/DS-ST ngày 31/5/2022 của T a án nhân dân huyện B theo đề nghị của Viện Kiểm s t nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ s .

Về n phí:

- Về n phí dân sự sơ thẩm:

Do sửa bản n sơ thẩm nên phải x c định lại nghĩa v chịu n phí sơ thẩm.

Căn cứ Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng n phí và lệ phí T a n.

Ông T phải chịu n phí hông có gi ngạch là 300.000 đồng.

Do ông T phải hoàn trả cho ông L, bà T số tiền 9.550.628.000 đồng nên phải chịu n phí có gi ngạch là: 117.550.628 đồng.

Ông L, bà T phải thanh to n tiền vay 920.200.000 đồng cho ông T nên phải chịu n phí là: 39.606.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền ông, bà đã nộp10.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số: AA/2019/0079521 ngày 17/6/2020 và số tiền 46.755.314 đồng theo biên lai thu tiền số: AA/2021/0040890 ngày 04/4/2022 của Chi c c Thi hành n dân sự huyện B. Ông L, bà T được nhận lại số tiền: 17.149.314 đồng.

-Về n phí phúc thẩm: Do sửa bản n sơ thẩm nên ông L, bà T hông phải chịu tiền n phí phúc thẩm. Hoàn lại tiền tạm ứng n phí phúc thẩm cho nguyên đơn theo quy định.

Vì c c lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào hoản 2 Điều 148, hoản 2 Điều 296, hoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 129, 137, 402, 471, 476 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ vào Điều 26 của Luật Thi hành n dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014; Căn cứ vào Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử d ng n phí và lệ phí T a n. Chấp nhận yêu cầu h ng c o của nguyên đơn ông Trần Văn L và Bà Phạm Thị Thu T. Sửa Bản n dân sự sơ thẩm số: 190/2022/DS-ST ngày 31/5/2022 của T a án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuyên xử: 1.Chấp nhận yêu cầu h i iện của nguyên đơn: 1.1.Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ngày 13/10/2012 lập tại Văn ph ng Công chứng X gi a ông Trần Văn L, Bà Phạm Thị Thu T và ông Phạm Công T vô hiệu do giả tạo. 1.2.Ông Trần Văn L và Bà Phạm Thị Thu T có tr ch nhiệm thanh toán cho ông Phạm Công T số tiền vốn vay 400.000.000 đồng và tiền lãi 520.200.000 đồng. Tổng cộng là: 920.200.000 đồng (chín trăm hai mươi triệu hai trăm ngàn đồng). 1.3. Buộc ông Phạm Công T phải hoàn trả cho ông Trần Văn L và Bà Phạm Thị Thu T số tiền: 9.550.628.000 đồng (chín tỷ năm trăm năm mươi triệu s u trăm hai mươi t m ngàn đồng) là gi trị quyền sử d ng diện tích 1629,8m2 đất, thuộc thửa 195, tờ bản đồ 16, tại xã E, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh mà hai bên đã chuyển nhượng. 1.4.Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của ông Trần Văn L và Bà Phạm Thị Thu T về việc yêu cầu: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất ( hông có tài sản gắn liền với đất) số: 022651 ngày 28/12/2015 gi a ông Phạm Công T, bà Trần Thị Thúy L và ông Nguyễn Tài T1; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất (không có tài sản gắn liền với đất) số: 018666/HĐ-CNQSDĐ ngày 17/9/2018 gi a ông Nguyễn Tài T1, bà Phạm Thị K và bà Nguyễn Thị Kim M; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất quyền s h u nhà và tài sản h c gắn liền với đất số: CH 04166 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho ông Phạm Công T ngày 13/02/2014; Hủy phần cập nhật thay đổi mang tên ông Nguyễn Tài T1 ngày 18/01/2016 và phần cập nhật thay đổi mang tên bà Nguyễn Thị Kim M ngày 15/10/2018 trong giấy chứng nhận quyền sử d ng đất nêu trên. 1.5. Chi phí tố t ng: Ông L, bà T tự nguyện chịu nên hông xem xét, giải quyết. Thi hành tại Cơ quan Thi hành n dân sự có thẩm quyền. Kể từ ngày bản n có hiệu lực ph p luật ( đối với c c trường hợp cơ quan thi hành n có quyền chủ động ra quyết định thi hành n) hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành n của người được thi hành n (đối với c c hoản tiền phải trả cho người được thi hành n) cho đến hi thi hành n xong, bên phải thi hành n c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành n theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp ph p luật có quy định h c.

2.Về n phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Phạm Công T phải chịu n phí hông có gi ngạch là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Án phí có gi ngạch là: 117.550.628 đồng (một trăm mười bảy triệu năm trăm năm mươi ngàn s u trăm hai mươi t m đồng).

Ông Trần Văn L và Bà Phạm Thị Thu T phải chịu n phí: 39.606.000 đồng (ba mươi chín triệu s u trăm lẻ s u ngàn đồng), được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông L, bà T đã nộp: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng n phí, lệ phí T a n số: AA/2019/0079521 ngày 17/6/2020 và số tiền 46.755.314 đồng (bốn mươi sáu triệu bảy trăm năm mươi lăm ngàn ba trăm mười bốn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng n phí, lệ phí T a n số: AA/2021/0040890 ngày 04/4/2022 của Chi c c Thi hành n Dân sự huyện B. Ông L, bà T được nhận lại số tiền: 17.149.314 đồng (mười bảy triệu một trăm bốn mươi chín ngàn ba trăm mười bốn đồng).

- Án phí dân sự phúc thẩm:

Hoàn lại cho ông Trần Văn L số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng n phí, lệ phí T a n số: AA/2021/0041312 ngày 09/6/2022 của Chi c c Thi hành n dân sự huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàn lại cho bà Phạm Thị Thu T số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng n phí, lệ phí T a n số: AA/2021/0041313 ngày 09/6/2022 của Chi c c Thi hành n dân sự huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản n, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành n dân sự, thì người được thi hành n dân sự, người phải thi hành n dân sự có quyền thỏa thuận thi hành n, quyền yêu cầu thi hành n, tự nguyện thi hành n hoặc bị cư ng chế thi hành n theo quy định tại c c Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành n dân sự; thời hiệu thi hành n được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành n dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật ể từ ngày tuyên n.

Cỡ chữ