vanban.org

Bản án 616/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 29/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 24 ( Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/02/2026. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BÙI VĂN A - gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 616/2026/HSST
Ngày : 29/7/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Chi

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Quang Khánh; Bà Vũ Thị Kim Thanh;

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Mạnh- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Cẩm V - Kiểm sát viên.

Ngày 29/7/2026, Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý: 537/2026/TLST-HS ngày 25/6/2026 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 645/2026/HSST-QĐ ngày 10/7/2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Văn L – sinh năm 1996. Tên gọi khác: Không; HKTT: Xóm B, xã D, tỉnh Phú Thọ. Nơi ơ: Số C ngõ A Đ, phường T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Văn Y; Con bà: Quách Thị M; Vợ: Lô Thị T - Sinh năm 1997. Có 01 con sinh năm : 2017 . Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 10/02/2026. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1- Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn L : Bà Nguyễn Thị Thanh X , sinh năm 19

- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Chi nhánh T3 - Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan : Anh Huỳnh Lê Hiếu S năm : 2003. HKTT : Khu 4 xã T , tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Hồi 10h00 ngày 10/2/2026, Công an phường T, TP Hà Nội tiếp nhận thông tin vụ việc từ trung tâm A về việc tại quán ăn Đ2 số A Đ, phường T có vụ việc gây rối trật tự công cộng.

Quá trình điều tra xác định:Khoảng 01 giờ 30 phút, ngày 10/02/2026, Bùi Văn L có hẹn với nhóm bạn để ăn tất niên tại quán bia C béo địa chỉ số A Đ, phường T. Trong nhóm bạn có tổng 11 người gồm: Bùi Văn L, Lương Mạnh L1 (thường gọi là Linh Q - quê quán: Bãi Khoai, xã D, tỉnh Phú Thọ); Bùi Văn L2 (sinh năm 1999 – là em họ của Bùi Văn L); Đ (ở S – là bạn xã hội của Bùi Văn L); 02 nam thanh niên không rõ nhân thân (là người đi cùng Đ); 01 nam thanh niên khác đi cùng Linh Q (không rõ nhân thân); Vũ Thị T1 (sinh năm 2004; quê quán: thôn Đ, xã N, tỉnh Hưng Yên) – thường gọi T1 “bebe”; 02 người phụ nữ là bạn anh L “Quạ” và 01 bạn nữ là bạn của L2. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 10/02/2026, nhóm của anh Huỳnh Lê H (sinh năm 2003; HKTT: khu D xã T, tỉnh Thanh Hóa) gồm 5 người: Huỳnh Lê H; Nguyễn Anh T2; Ngô Tuấn L3 và Phạm Gia Hải Đ1 cũng đến quán ngồi ăn uống và ngồi cạnh bàn với nhóm của Bùi Văn L. Trong quá trình ngồi ăn tại quán, cả 2 nhóm đều có uống rượu. Đến khoảng 05 giờ ngày 10/02/2026 thì phát sinh mâu thuẫn giữa Lương Mạnh L1 và anh Huỳnh Lê H. Lương Mạnh L1 đứng dậy quay phía sau chửi bới, dùng tay kẹp giữ cổ của H, dùng tay đấm liên tiếp vào đầu, mặt của anh H. Nam thanh niên tên Đ đứng dậy cầm chiếc bát sứ (loại bát con thường dùng ăn cơm) trên mặt bàn ném thẳng vào đầu của H. Lúc này, cả nhóm gồm 6 người: Bùi Văn L, Lương Mạnh L1, Đ, L3, cùng 02 nam thanh niên (là người đi cùng Đ) đã cùng lao về phía bàn của H để đánh H. Bùi Văn L thừa nhận bản thân không có mâu thuẫn, thù tức gì với anh H, nhưng khi thấy Lương Mạnh L1 đánh anh H, thì Bùi Văn L cũng lao vào để tham gia xô xát, Bùi Văn L đã dùng tay đấm 01 phát trúng vai anh H, khi anh H bị ngã xuống nền nhà thì Bùi Văn L vẫn lao vào dùng chân phải đạp 02 phát vào vùng đầu, mặt của H. Những người khác thì dùng chân, tay đánh đấm liên tiếp vào người của anh H. Các đối tượng trong nhóm của Bùi Văn L rất hung hăng, liên tục to tiếng chửi bới, đe dọa đánh nhóm người của anh Huỳnh Lê H. Sự việc xô xát diễn ra rất hỗn loạn, khiến đồ đạc trong quán ăn đổ rơi vỡ xuống nền nhà, bàn ghế bị xô đổ. Bị đánh, nhóm người bên anh Huỳnh Lê H chỉ căn ngăn và xin không đánh anh H nữa, còn H thì vùng bỏ chạy ra phía bên ngoài cửa quán (đường Đ), các đối tượng trên vẫn tiếp tục đuổi đánh anh H nhưng được mọi người can ngăn giữ lại. Do các đối tượng trên tiếp tục đứng trong quán chửi bới ầm ĩ khiến những người xung quanh tụ tập để xem sự việc. Tình trạng chửi bới, xô xát, hỗn loạn diễn ra trong khoảng thời gian 10 phút, được chủ quán và những người xung quanh can ngăn, thì nhóm đối tượng đã bỏ đi. Hậu quả của vụ xô xát, ẩu đả: Anh Huỳnh Lê H bị 01 vết thương rách da ở vùng da đầu bên phải (phía trên tai phải), vết rách da nhỏ, không rõ hình. Vùng thái dương bên trái bị rách da, trầy xước, bầm đỏ; vùng da đầu bên trái (phía trên thái dương) bị trầy xước da, bầm đỏ; tại vùng cánh mũi bên phải có vết xước da, bầm đỏ; vùng cổ có vết xước da. Tại Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 487/KLTTCT-TTPY ngày 29/5/2026 xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Huỳnh Lê H tại thời điểm giám định là 1% - Làm tròn. Cơ chế hình thành thương tích do vật tày, tày có cạnh gây ra. Ngày 07/5/2026, anh Huỳnh Lê H có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, không yêu cầu khởi tố đối với hành vi của các đối tượng đánh gây thương tích cho anh H; đồng thời đề nghị xem giảm nhẹ hình phạt cho bị can Bùi Văn L nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý hành vi “Cố ý gây thương tích” của các đối tượng. Đối với Bùi Văn L2: Quá trình điều tra xác định Bùi Văn L2 sinh ngày 10/9/2000, HKTT: xóm B, xã D, tỉnh Phú Thọ. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập L2 đến làm việc (ngày 24/02/2026, 17/3/2026, 20/4/2026) nhưng L2 không đến làm việc. Xác minh tại công an xã D, tỉnh Phú Thọ xác nhận: L2 không có mặt tại địa phương, không rõ địa chỉ hiện tại của L2. Đối với Lương Mạnh L1: Quá trình điều tra xác định Lương Mạnh L1 sinh ngày 30/7/1984; HKTT: Tổ I M, phường P, Hà Nội. Cơ quan điều tra đã gửi giấy triệu tập nhưng L1 không đến làm việc. Xác minh tại công an địa phương, Công an phường P cung cấp thông tin: L1 chuyển nhà đi nơi khác từ năm 2008, hiện đang tạm trú ở TDP số G H, phường X, Hà Nội. Xác minh tại công an phường X: Xác minh tại Công an phường X: ngõ A đường X không có số nhà G và không có đối tượng Lương Mạnh L1 ăn ở tạm trú. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố H đã ra Quyết định truy tìm người và Quyết định tách vụ án hình sự liên quan đến hành vi của Bùi Văn L2, Lương Mạnh L1 và 03 nam thanh niên để tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau theo quy định. Vật chứng thu giữ: 01 USB ghi nhận hình ảnh sự việc. Về dân sự: Bà Quách Thị M là mẹ đẻ của bị can Bùi Văn L tự nguyện bồi thường cho anh Huỳnh Lê H số tiền 30.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Anh H không yêu cầu đề nghị bồi thường gì khác về dân sự và có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Anh Nguyễn Văn C (là chủ quán B) không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 202/CT-VKSKV4 ngày 24/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận tội như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Văn L về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự; Điểm b,s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Bùi Văn L với mức án từ 24 đến 30 tháng tù. Do bị cáo không có thu nhập nên đề nghị toà án không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xử lý vật chứng: Không có.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo bào chữa : Đề nghị Hội đồng xét xử xét bị cáo là người dân tộc , cha mẹ mất sớm hoàn cảnh khó khăn cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố H, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền , trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Về căn cứ xác định tội danh: Khoảng 05 giờ, ngày 10/2/2026 tại quán bia C béo địa chỉ số A Đ, phường T, phát sinh mâu thuẫn giữa nhóm Bùi Văn L và anh H1 Lê Hiều . Bùi Văn L đứng dậy quay về phía sau chửi bới, dùng tay kẹp giữ cổ của H2, dùng tay đấm liên tiếp vào đầu, mặt của anh H. Trước đó, nam thanh niên cùng nhóm Bùi Văn L đã sử dụng chiếc bát sứ trên bàn ném thẳng vào đầu anh H, rồi cả nhóm L lao vào đánh gây thương tích cho anh Huỳnh Lê H khiến anh H bị tổn hại sức khỏe 1%. Hành vi của Bùi Văn L cùng đồng bọn thể hiện sự côn đồ, coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn khu vực Đ, phường T, Hà Nội.

Hành vi của bị cáo Bùi Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “ Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Hà Nội truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội. Bị cáo là người đã trưởng thành, có khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến xâm phạm đến trật tự an ninh xã hội, cuộc sống sinh hoạt ổn định của cộng đồng. Bị cáo phạm lỗi cố ý trực tiếp.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo: Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, bị cáo là người dân tộc Mường theo quy định tại Điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng đối với bị cáo một hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Không có.

Về án phí : Điều 12 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

1. Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 318; Điều 38; Điểm b, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 24 ( Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/02/2026. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bùi Văn L không phải án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi ích của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ