vanban.org

Bản án 615/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Trần Phi Hùng: ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 14/5/2014. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND TỈNH TH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TAND TP TH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 615/2022/HSST
Ngày: 29/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH – TỈNH TH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ninh

2. Ông Nguyễn Khắc Thái Sơn

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Quyên - cán bộ toà án nhân dân TP TH.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TH tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố TH xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 5972022/TLST-HS ngày 28/11/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 528/2022/QĐXXST-HS ngày 12/12/2022đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn T, Sinh ngày 13 tháng 4 năm 1987

Tên gọi khác: Không - Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT: Xóm Đồng Ao, xã Đồng Liên, thành phố TH, tỉnh TH.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Nguyễn Văn Cần, sinh năm 1954; Con bà: Phan Thị Minh, sinh năm 1959; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Bế Thị Hanh, sinh năm 1990; Có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2013.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Nhân thân: + Bản án số 37/2007/HSST ngày 13/4/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh TH xử phạt Nguyễn Văn T 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong các quyết định của bản án ngày 29/4/2009.

+ Bản án số 43/2016/HSST ngày 01/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh TH xử phạt Nguyễn Văn T 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 25/3/2018. Chấp hành xong các quyết định khác của bản án năm 2016.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TH (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2022 đến nay). Có mặt tại phiên toà

2. Họ và tên: Đặng Văn H, Sinh ngày 03 tháng 8 năm 1991.

Tên gọi khác: Không

- Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT: Xóm Thanh Chử, xã Linh Sơn, thành phố TH, tỉnh TH.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Sán Dìu; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Đặng Văn Tám, sinh năm 1970; Con bà: Trịnh Thị M, sinh năm 1972; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Liễu Thị Huyền, sinh năm 1991; Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án: Không;Tiền sự: Không; Nhân thân: Không

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TH (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/8/2022 đến nay). Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị M, sinh năm 1972

Địa chỉ: Xóm Thanh Chử, xã Linh Sơn, TP. TH, tỉnh TH

(Có mặt tại phiên tòa)

* Người chứng kiến: Lê Quốc Th, sinh năm 1989

Địa chỉ: Xóm Toàn Thắng, xã Đồng Liên, TP.TH, tỉnh TH

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 30 phút ngày 29/8/2022, tổ công tác của Công an xã Đồng Liên, thành phố TH tiến hành tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã, khi đi đến đường dân sinh thuộc xóm Trà Viên thì phát hiện 02 người đàn ông điều khiển xe mô tô BKS: 20B2-48141 có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác tiến hành áp sát, yêu cầu kiểm tra, 02 người đàn ông chấp hành, người đàn ông điều khiển xe khai tên là Nguyễn Văn T, người đàn ông ngồi phía sau khai tên là Đặng Văn H. Qua làm việc, H khai có cất giấu ma túy trên người và tự giác giao nộp từ lòng bàn tay phải của H 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng cho tổ công tác, H và T khai là ma túy Heroine mà T và H vừa đi mua để cùng nhau sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, T, niêm phong thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 01 xe mô tô BKS: 20B2-48141.

Cùng ngày, cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của T, H là 0,190 gam, niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 1352/KL-KTHS ngày 06/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TH kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,190 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T, Đặng Văn H khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 29/8/2022, H điều khiển xe mô tô BKS: 20B2-48141 đến nhà T chơi. Sau đó, T rủ H cùng đi mua ma túy Heroine về cùng nhau sử dụng, H đồng ý. Do H không có tiền nên T và H thống nhất T sẽ bỏ ra 200.000 đồng để mua ma túy. T điều khiển xe mô tô BKS: 20B2-48141 chở H đi đến khu vực ngã ba quá tải thuộc phường Tích Lương, thành phố TH. Đến nơi, H ngồi ở xe mô tô chờ còn T xuống xe đi bộ khoảng 10m thì gặp 01 người đàn ông không quen biết, T hỏi và mua được của người này 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng (quá trình mua ma túy H được chứng kiến). Mua xong, T cầm gói ma túy ở tay trái rồi quay lại xe mô tô chỗ H đang chờ rồi điều khiển xe chở H đi tìm nơi sử dụng ma túy. Cả 02 đi đến khu vực nghĩa trang thuộc phường Tích Lương rồi cùng nhau sử dụng 01 phần số ma túy từ gói ma túy đã mua được, số ma túy còn lại T gói lại rồi đưa cho H cầm, T bảo H mang về nhà T để cả hai sử dụng tiếp. H cầm gói ma túy ở lòng bàn tay phải rồi T điều khiển xe mô tô chở H về nhà T. Khi cả hai đi đến khu vực xóm Trà Viên, xã Đồng Liên, thành phố TH thì bị tổ công tác của Công an xã Đồng Liên phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai nhận của Nguyễn Văn T, Đặng Văn H phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A; 01 bì niêm phong ký hiệu A1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20B2-48141, số khung RLHJA3923MY279085, số máy JA39E-2402571, đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên bà Trịnh Thị M (Sinh năm 1972, HKTT: Xóm Thanh Chử, xã Linh Sơn, thành phố TH, tỉnh TH) là mẹ đẻ của bị can Đặng Văn H. Ngày 29/8/2022, H mượn của bà M chiếc xe mô tô trên. Hiện được chuyển đến bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 591/CT- VKSTPTN ngày 25/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, tỉnh TH đã truy tố Nguyễn Văn T, Đặng Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TH giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T, Đặng Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 21 đến 24 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Đặng Văn H từ 18 đến 21 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A; 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong chứa chất ma tuý.

+ Trả lại cho bà Trịnh Thị M là mẹ đẻ của bị cáo Đặng Văn H chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20B2-48141, số khung 3923MY279085, số máy JA39E-2402571, đã qua sử dụng sở hữu, sử dụng.

- Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, các bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo T, bị cáo H đều xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của Nguyễn Văn T, Đặng Văn H tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Do nghiện ma túy nên vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 29/8/2022, tại xóm Trà Viên, xã Đồng Liên, thành phố TH, Nguyễn Văn T và Đặng Văn H đang có hành vi tàng trữ 0,190 gam ma túy, loại Heroine mục đích để cùng nhau sử dụng thì bị tổ công tác của Công an xã Đồng Liên, thành phố TH phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của T, H để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán cho người khác thu lời bất chính đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội phạm và hình phạt của các bị cáo được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Nội dung điều luật quy định như sau:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các T hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm

....

c, Heroine ...... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:

- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo biết rõ ma túy là mặt hàng cấm do Nhà nước độc quyền quản lý, là nguyên nhân gây ra các loại tệ nạn xã hội khác, song do nghiện ma túy các bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Việc đưa ra xét xử đối với các bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với các bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Nguyễn Văn T chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu: Tại bản án số 37/2007/HSST ngày 13/4/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh TH xử phạt Nguyễn Văn T 36 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” ; Tại bản án số 43/2016/HSST ngày 01/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh TH xử phạt Nguyễn Văn T 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tuy bị cáo đã được xóa án tích đối với hai bản án này nhưng bị cáo lại không lấy đó làm bài học cho bản thân, do nghiện ma túy mà tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Bị cáo Đặng Văn H chưa có tiền án, tiền sự, tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu tu chí làm ăn, lười lao động, do nghiện ma túy mà dẫn đến phạm tội. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo T, bị cáo H có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải vì vậy được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Xét về vai trò đồng phạm trong vụ án này là đối với các bị cáo là đồng phạm giản đơn do các bị cáo đều là người nghiện ma tuy, cùng rủ nhau mua ma tuý mục đích để sử dụng bản thân, nên tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo là ngang nhau.

. Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên xem xét giảm một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo T là chưa phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi và nhân thân của bị cáo đã gây ra, mức đề nghị hình phạt của viện kiểm sát đối với bị H là phù hợp.

. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng qua xác minh bị cáo T, bị cáo H là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định. Các bị cáo không có tài sản gì riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong ký hiệu A; 01 bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong chứa chất ma tuý.

- Về chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 20B2-48141, số khung RLHJA3923MY279085, số máy JA39E-2402571, đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên bà Trịnh Thị M là mẹ đẻ của Đặng Văn H. Quá trình điều tra và tại phiên toà bà M trình bày: Nguồn gốc chiếc xe mô tô trên là tài sản của bà, bà sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày, ngày 29/8/2022, H mượn của bà M chiếc xe mô tô trên, nhưng không biết H sử dụng để đi mua ma tuý, tại phiên toà bà đề nghị được trả lại chiếc xe trên cho bà quản lý, sử dụng. Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời khai của bị cáo và của bà Trịnh Thị M tại phiên toà, thấy cần trả lại chiếc xe mô tô BKS 20B2 – 48141 cho bà Trịnh Thị M quản lý, sử dụng là phù hợp.

. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Nguyễn Văn T, Đặng Văn H khai mua của một người đàn ông không quen biết, do không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với bà Trịnh Thị M là người cho Đặng Văn H mượn chiếc xe mô tô BKS: 20B2-48141, quá trình điều tra xác định bà M không biết H sử dụng chiếc xe trên để điều khiển đi mua ma túy nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với bà M.

. Các bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T và Đặng Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý"

Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1, Điều 249; Điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T: 30( Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/8/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1, Điều 249; Điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn H: 18 ( Mười tám) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/8/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

* Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T, Đặng Văn H mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:

- Tịch thu tiêu huỷ: + 01(một) bì niêm phong ký hiệu A1, mặt sau phong bì có 03 dấu tròng đỏ của Phòng KTHS Công an tỉnh TH cùng chữ ký của Nguyễn Minh Thanh, M Tố Uyên.

+ 01(một) bì niêm phong ký hiệu A2, mặt sau phong bì có 03 dấu trong đỏ của Cơ quan CSĐT Công an TP TH cùng chữ ký của Vũ Đức Thiện, Hoàng Thị Diệu Ngọc, Đặng Bách, Nguyễn Văn Trương, Đặng Văn H, Lê Quốc Thiên, Trần Văn Hòe.

- Trả lại 01(một) chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, màu sơn: xanh đen bạc, số khung RLHJA3923MY279085, số máy JA39E-2402571, số loại WAVE, dung tích xi lanh: 109.1, loại xe: hai bánh từ 50-175cm3(Xe đã qua sử dụng) cho bà Trịnh Thị M quản lý, sử dụng.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 149 ngày 28/11/2022)

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T, Đặng Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND, Tỉnh, TP;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Công an TPTN;

- THA phạt tù;

- Sở Tư pháp TN;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Nguyễn Anh Thư TAND TP. TH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH TH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TH, ngày 28 tháng 05 năm 2018

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi……. giờ…..ngày ….. tháng …. năm 2018

Tại: Phòng nghị án – Tòa án nhân dân thành phố TH

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Anh Thư

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Huy

2. Bà Bùi Diễm Hạnh

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 192/2018/TLST - HS ngày 11 tháng 5 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị Tố Loan, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1977.

Tên gọi khác: Không

Nơi ĐKNKTT : Tổ 12, phường Phan Đình PH, TP TH, tỉnh TH; Nơi ở: Tổ 32, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố TH.

2. Họ và tên: Nguyễn Duy Hưng, sinh ngày 17 tháng 10 năm 1999

Tên gọi khác : Không

Nơi ĐKNKTT: Xóm bằng Ninh, xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh TH.

Căn cứ các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Tố Loan, Nguyễn Duy Hưng phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Kết quả biểu quyết 3/3.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

- Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Tố Loan: 15 ( Mười lăm ) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/01/2018. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy Hưng: 12 ( Mười hai ) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/01/2018. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Áp dụng Điều 329 BLTTHS Quyết định tạm giam các bị cáo Nguyễn Thị Tố Loan, Nguyễn Duy Hưng 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Kết quả biểu quyết 3/3.

4. Về các vấn đề khác:

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu tiêu hủy : 03 bì niêm phong theo quy định, ký hiệu L, L2, L3; 01 cân điện tử màu đen, nhãn hiệu POCKETSCALE; 20 túi nilon màu trắng chưa qua sử dụng.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen, số Imei 1: 354877082164628, Imei 2: 354877082164636, kèm theo 02 sim điện thoại; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng, số Imei: 235415/02/160125/9, kèm theo 01 sim điện thoại;

+ Tạm giữ số tiền 200.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam của bị cáo Loan để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TH theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 232 ngày 20/4/2018, Ủy nhiệm chi số 47 ngày 12/4/2018)

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Kết quả biểu quyết 3/3.

Nghị án kết thúc vào hồi........giờ...... phút, ngày ...... tháng .... năm 2018

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Thư THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Thư

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

Đặng Minh Tuân Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

-VKSND, Tỉnh, TP;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Công an TPTN;

- THA phạt tù;

- Sở Tư pháp TN;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đặng Minh Tuân

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

Đặng Minh Tuân Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

-VKSND, Tỉnh, TP;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Công an TPTN;

- THA phạt tù;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ vụ án.

Đặng Minh Tuân

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

Đặng Minh Tuân

toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự, người làm chứng, vật chứng thu giữ. (BL: 14-40)

Vật chứng của vụ án là: 01 cánh cổng khung sắt mạ kẽm có kích thước 2 x 3m, bên trong hàn lưới sắt B40; 01 bó lưới sắt B40 có chiều dài 3m.

Tại bản kết luận số 158/HĐĐGTS, ngày 29 tháng 5 năm 2014 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Nguyên kết luận: Tổng giá trị tài sản trên là 442.500đ. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn Phương đại diện công ty CP Trung Tín quản lý, sử dụng, ông Phương không có yêu cầu đề nghị gì.

Tuy tài sản do Trần Phi Hùng trộm cắp có giá trị dưới 2 triệu đồng nhưng trước đó Hùng đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản nên hành vi nêu trên của Trần Phi Hùng đã cấu thành tội phạm hình sự.

Bản cáo trạng số 314/KSĐT - KT, ngày 14/7/2014 của VKSND thành phố TH truy tố Trần Phi Hùng về tội “Trộm cắp tài sản “ theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự đối xử phạt Trần Phi Hùng từ

đến tháng tù giam.

Thời hạn tù tính từ ngày 14/5/2014.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Hùng 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự: không xem xét.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát, các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

Căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác..

XÉT THẤY

Khoảng 5 giờ 30 phút, ngày 13/5/2014, tại công trường xây dựng của Công ty cổ phần Trung Tín thuộc tổ 9, phường Trưng Vương, TPTN. Trần Phi Hùng là đối tượng nghiện ma túy, đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản đã thực hiện hành vi trộm cắp của Công ty cổ phần Trung Tín 01 cánh cổng khung sắt mạ kẽm có kích thước 2 x 3m, bên trong hàn lưới B40 và 01 bó lưới sắt B40 dài 3m, tổng trị giá là 442.000đ. Khi Hùng đang mang tài sản trộm cắp đi tiêu thụ thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Hiện tài sản đã được thu hồi trả cho công ty cổ phần Trung Tín quản lý, sử dụng.

Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS là thành khẩn khai báo bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào tại Điều 48 Bộ luật hình sự.

Mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự:

Toàn bộ tài sản do Hùng trộm cắp đã được thu hồi trả lại Công ty cổ phần Trung Tín, đại diện là anh Nguyễn Văn Phương, anh Phương không có đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Phi Hùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự,

- Xử phạt Trần Phi Hùng:

(

) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 14/5/2014.

Áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụng Hình sự: Quyết định tạm giam Trần Phi Hùng 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình sự. Pháp lệnh số 10/2009/PL - UBTNQH12 về án phí, lệ phí Tòa án: buộc Trần Phi Hùng phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện Nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đặng Minh Tuân

Cỡ chữ