vanban.org

Bản án 613/2025/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/11/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Quách Đại H. Bản án hình sự sơ thẩm số: 445/2025/HS-ST ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Quách Đại H có hiệu lực pháp luật.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quách Hoàng L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 445/2025/HS-ST ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xử phạt bị cáo Quách Hoàng L Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo Quách Hoàng L để đảm bảo thi hành án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Quách Đại H và Quách Hoàng L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Quách Đại H. Bản án hình sự sơ thẩm số: 445/2025/HS-ST ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Quách Đại H có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
TÒA PHÚC THẨM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 613/2025/HS-PT
Ngày 27/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Thu Hương

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

Ông Phạm Văn Công

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vi Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 241/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo Quách Đại H và Quách Hoàng L, do có kháng cáo của các bị cáo Quách Đại H và Quách Hoàng L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 445/2025/HS-ST ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Quách Đại Hưng, sinh năm 1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 100B đường G Hồ N, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là 100B đường G Hồ N, phường M, Thành phố Hồ Chí Minh); tạm trú: Nhà không số cạnh nhà số B L, phường B, quận B, Thành phố H nhà không số cạnh nhà số B L, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Khôngtrình độ học vấn: 7/12dân tộc: Hoa; giới tính: Namtôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Xây Cuibà Trương Kiết C cảnh gia đình: Chưa có vợ, contiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt giam từ ngày 02/8/2023; có mặt.

2. Quách Hoàng Long, sinh năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: C B, Phường A, Quận H, Thành phố H B, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh); tạm trú: Chỗ ở P, lầu 2, nhà số B A, Phường A, Quận H, Thành phố H, lầu 2, nhà số B A, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Khôngtrình độ học vấn: Trình độ VH 8/12 dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cha Quách Tấn Q Phạm Mai T cảnh gia đình: Có 02 con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017) tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt giam từ ngày 07/8/2023có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Quách Đại H: Ông Hồ Hoài N là Luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Quách Hoàng L: Ông Nguyễn Văn P là Luật sư của Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: C đường D, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Kiều Thanh T1, Trịnh Khai N1, Châu Văn S, Quách Mỹ N2, Võ Minh C1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác nhưng không có kháng cáo và liên quan đến kháng cáo nên Tòa không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 00 phút ngày 02/8/2023, Công an quận B phối hợp Công an phường B kiểm tra hành chính quán cà phê tại số B Đường số E, phường B, quận B, phát hiện, thu giữ trong túi áo khoác của Trịnh Khai N1 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 77,7699 gam, loại Ketamine, do Quách Đại H đưa cho N1 đi giao cho khách, nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Ngoài ra còn thu giữ của N1: xe mô tô biển số: 59D1-524.95, 01 điện thoại di dộng Iphone. Khám xét chỗ ở của Trịnh Khai N1, tại nhà số A P, phường B, quận B, không phát hiện, thu giữ gì.

Vào lúc 11 giờ 10 phút ngày 02/8/2023, Công an quận B cùng Công an phường B B kiểm tra chỗ ở của Quách Đại H tại nhà không số cạnh nhà số B L, phường B, quận B, thu giữ trên bàn trong phòng ngủ ở lầu 2:

- 03 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 4,0294 gam, loại Methamphetamine.

- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 5,0140 gam, loại Ketamine.

- 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu vàng nhạt, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,0255 gam, loại MDMA.

- 01 gói nylon chứa 48 viên nén màu đen, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 21,2634 gam, loại MDMA, Ketamine.

- 01 gói nylon chứa 28 viên nén màu xám, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 12,7919 gam, loại MDMA.

- 01 gói nylon chứa 51 viên nén màu xám, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 23,2257 gam, loại MDMA.

- 01 gói nylon chứa 290 viên nén màu đen, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 113,74 gam, loại MDMA, Diazepam.

- 01 gói nylon màu đỏ bên trong có 400 viên nén màu vàng nhạt, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 158,34 gam, loại MDMA, Diazepam.

Tiếp theo, khoảng 13 giờ 10 phút ngày 02/8/2023, tại trước nhà số C L, phường B, quận B, TP ., tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ phía sau xe mô tô biển 59N1-033.39 một thùng giấy carton in hình máy nén và chữ DEKTON của Châu Văn S, bên trong có:

- 01 túi giấy có ghi chữ 1000 x 2 bên trong có 02 gói nylon đựng 04 gói nylon chứa nhiều viên nén màu vàng nhạt, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1.094,30 gam, loại MDMA.

- 01 túi giấy có ghi chữ 1000 x 2 bên trong có 02 gói nylon đựng 04 gói nylon chứa nhiều viên nén màu vàng nhạt, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1.096,17 gam, loại MDMA.

- 01 túi giấy có ghi chữ 1000 x 2 bên trong có 02 gói nylon đựng 04 gói nylon chứa nhiều viên nén màu vàng nhạt, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1.049,19 gam, loại MDMA.

- 01 túi giấy có ghi chữ 1000 x 2 bên trong có 02 gói nylon đựng 04 gói nylon chứa nhiều viên nén màu vàng nhạt, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1.110,92 gam, loại MDMA.

- 01 túi giấy có ghi chữ 1000 x 2 bên trong có 02 gói nylon đựng 05 gói nylon chứa nhiều viên nén màu vàng nhạt, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1.082,56 gam, loại MDMA.

- 01 túi giấy có ghi chữ 1000 x 3 bên trong có 02 gói nylon đựng 04 gói nylon chứa nhiều viên nén màu vàng nhạt, là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1.083,66 gam, loại MDMA.

Châu Văn S khai nhận thùng giấy này tại nhà số C L, phường B, quận B, TP . từ Q để giao cho khách.

Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ ma túy và 01 xe mô tô biển số 59N1-033.39; 01 túi giấy ghi chữ 5000; 01 hộp giấy; 01 cân điện tử; Số tiền 2.000.000 đồng.

Khám xét chỗ ở của Châu Văn S tại phòng số 1, lầu 1, nhà trọ số 670 H, phường B, quận B, Cơ quan điều tra Công an quận B thu giữ 01 ba lô màu đen, bên trong không chứa gì.

Cùng thời điểm này, khoảng 13 giờ 00 phút ngày 02/8/2023, Công an quận B tiến hành làm việc và khám xét chỗ ở của Quách Mỹ N2 tại nhà C L, phường B, quận B, thu giữ 01 túi xách màu đen bên trong có 10 miếng giấy carton, 01 điện thoại di động Iphone, 01 điện thoại di động Oppo. N2 thừa nhận giao cho S thùng giấy có hình máy nén khí và in chữ DEKTON, bên trong để nhiều túi giấy, túi nylon chứa ma túy.

Quá trình điều tra vụ án, khoảng 16 giờ 15 phút ngày 07/8/2023, tại trước nhà số B A, phường A, quận B, Công an quận B cùng Công an phường A kiểm tra, thu giữ trong hộc phía trước bên trái xe mô tô biển số 83P2-010.41 do Võ Minh C1 điều khiển: 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET, bên trong đựng 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, khối lượng 25,89 gam, loại Methamphetamine, C1 khai mua của Quách Hoàng L để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ của C1: xe mô tô biển số 83P2-010.41; 01 điện thoại di động Oppo; 01 điện thoại di động N3. Khám xét chỗ ở của Võ Minh C1, tại nhà B ấp B, xã T, huyện B, TP ., không thu giữ gì.

Khám xét chỗ ở của Quách Hoàng L, tại phòng số 6 lầu 2 nhà số B A, Phường A, Quận H, TP ., thu giữ:

- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, khối lượng 490,76 gam, loại Methamphetamine.

- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, khối lượng 99,86 gam, loại Methamphetamine.

- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, khối lượng 19,88 gam, loại Methamphetamine, Ketamine.

- 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, khối lượng 329,63 gam, loại Ketamine.

- 01 hộp giấy đựng 05 gói nylon chứa 500 viên nén màu hồng, là ma túy ở thể rắn, tổng khối lượng 206,19 gam, loại MDMA.

- 10 gói nylon chứa 910 viên nén màu vàng, là ma túy ở thể rắn, tổng khối lượng 393,21 gam loại MDMA.

- 02 gói nylon chứa 157 viên nén màu xám, là ma túy ở thể rắn, tổng khối lượng 64,75 gam, MDMA.

- Số tiền 3.000.000 đồng; 01 cân điện tử; 01 điện thoại di động hiệu Iphone; 01 điện thoại di động hiệu Nokia; 01 hộp giấy màu đỏ. Cơ quan điều tra đã tiến hành bắt khẩn cấp đối với Quách Hoàng L.

Tiếp tục mở rộng điều tra, ngày 07/8/2023, Công an quận B khám xét chỗ ở của Nguyễn Kiều Thanh T1, tại phòng số 7 lầu 2 nhà số B A, Phường A, Quận H, TP ., thu giữ:

- 01 hộp giấy in chữ “LESCOLTON” đựng 01 gói nylon chứa 200 viên nén, có khối lượng 99,02 gam, kết luận giám định không tìm thấy chất ma túy (L và T1 khai hộp giấy nay do L gửi T1 giữ).

- 01 điện thoại di động hiệu YES không có simcard, 01 bình nhựa có gắn vòi để sử dụng ma túy.

Cùng trong ngày 07/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B khám xét chỗ ở của Lưu Khánh P1 tại số B T, phường B, quận B, TP . không phát hiện thu giữ được gì.

Toàn bộ vật chứng là ma túy thu giữ đã được giám định, thể hiện tại các Kết luận giám định số 8578, 8579, 8580/KL-KTHS ngày 11/8/2023 và 8737/KL-KTHS ngày 15/8/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H.

Tại Cơ quan điều tra, các bị can khai nhận:

Tháng 3/2023, Quách Đại H quen biết với Lưu Khánh P1, sau đó P1 nhờ H tìm kiếm giúp đầu mối tiêu thụ ma túy, H đồng ý mua ma túy của P1 để bán lại. Ngoài ra, P1 còn nhờ H tìm người phụ giúp P1 bán ma túy và tìm địa điểm làm nơi cất giữ ma túy nên H giới thiệu chị ruột của H, là Quách Mỹ N2 phụ giúp P1. Ngày 17/7/2023, H nói N2 thuê nhà làm nơi chứa ma túy theo yêu cầu của P1. N2 đồng ý và thuê nhà số C L, phường B, quận B, TP .. P1 đưa cho H và N2 11.600.000 đồng để đặt cọc và trả tiền thuê nhà trong 01 tháng, P1 hứa trả tiền công cho N2 nhưng chưa nói số tiền công cụ thể.

Quách Đại H mua ma túy của P1 với giá 42.000.000 đồng/100 gam Ketamine, 100.000 đồng/viên thuốc lắc (MDMA), bán lại cho khách giá 120.000 đồng/viên, 22.500.000 đồng/50 gam Ketamine, thanh toán chuyển khoản từ tài khoản của H: số I - Ngân hàng V đến tài khoản số 5673387 - Ngân hàng A1, chủ tài khoản Lưu Khánh P1 hoặc tài khoản 33573157 - Ngân hàng A1, chủ tài khoản Châu Văn S. Kết quả sao kê 03 tài khoản này, thể hiện việc H chuyển tiền cho P1. Quá trình mua bán ma túy, H được Trịnh Khai N1 phụ giúp giao ma túy cho khách, với mức tiền công 200.000 đồng/lần. Từ đầu tháng 7/2023, H mua ma túy của P1 03 lần đem về phân chia bán lại cho khách, cụ thể:

- Lần 1: Khoảng đầu tháng 7/2023, H mua của P1 700 viên MDMA với giá 70.000.000 đồng, H bán khối lượng này cho đối tượng tên T2, N1 và một người không rõ tên (đều không rõ lai lịch) do Lưu Khánh P1 giới thiệu. Tuy nhiên, khách nói thuốc kém chất lượng nên trả lại cho H khoảng hơn 600 viên, H cất giữ tại chỗ ở và bị thu giữ khi khám xét.

- Lần 2: Khoảng cuối tháng 7/2023, H mua của P1 700 viên MDMA, giá 70.000.000 đồng, H bán cho T2, N1 (không rõ lai lịch) mỗi người 250 viên với giá 30.000.000 đồng, còn lại 200 viên, H cất giấu tại chỗ ở và bị thu giữ khi khám xét.

- Lần 3: Ngày 30/7/2023, H tiếp tục mua của P1 100 gam Ketamine với giá 42.000.000 đồng. Ngày 02/8/2023, H phân chia số ma túy này đưa một phần cho Trịnh Khai N1 đem giao cho khách mua tên N1 (không rõ lai lịch) nhưng chưa kịp giao thì N1 bị bắt giữ, số Ketamine còn lại H cất giấu tại nhà và bị thu giữ khi khám xét.

Ngoài ra, ngày 01/8/2023, Lưu Khánh P1 điện thoại bảo H qua chỗ ở của Châu Văn S, tại nhà F H, phường B, quận B lấy một túi xách bằng vải màu đen đựng ma túy đem về cất giữ tại nhà Quách Mỹ N2 thuê. Nên sáng ngày 02/8/2023, H gọi điện thoại nói Trịnh Khai N1 qua nhà Châu Văn S lấy ma túy đem về nhà số C L, phường B, quận B. Đồng thời, H cũng gọi điện thoại cho S nói giao túi xách chứa ma túy cho N1. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/8/2023, Trịnh Khai N1 đem 01 túi xách màu đen đến nhà N2 thuê tại số C L, phường B, quận B, H bảo N1 để túi xách này tại chân cầu thang. Sau đó, H đem túi xách lên phòng tại lầu 1 mở ra kiểm tra, trong túi đựng 06 túi giấy: bên trong có 25 gói nylon chứa nhiều viên nén. H để toàn bộ các túi giấy, túi nylon chứa viên nén trên sàn phòng ở lầu 1 và đi về. Đến khoảng 12 giờ 53 phút cùng ngày, P1 gọi cho N2 qua mạng xã hội T3, bảo N2 lên lầu gom toàn bộ túi giấy, túi nylon chứa viên nén bỏ vào thùng carton (để sẵn trên lầu 1) đóng thùng lại và đem xuống sân nhà giao cho người đàn ông mặc áo jean, quần jean đi xe Attila màu đỏ đen. Theo chỉ dẫn của P1, N2 lên lầu 1 gom toàn bộ số viên nén trên bỏ vào trong thùng giấy ghi chữ DEKTON đóng miệng thùng, dán băng keo lại rồi đem xuống trước cửa nhà đặt lên xe máy cho Châu Văn S chở đi. Lần này, P1 chưa hứa hẹn khoản tiền công với H.

Sau khi nhận thùng giấy có chứa ma túy, theo chỉ đạo của P1, Châu Văn S chở đến khu vực hẻm A Đ, phường B, quận B để giao cho khách nhưng không có người nhận, khi S trên đường chở thùng hàng quay về thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ.

Mặt khác, từ tháng 3/2023 đến tháng 8/2023, Quách Đại H còn nhiều lần giúp Lưu Khánh P1 thu tiền bán ma túy để nhận tiền công từ 1.000.000 – 2.000.000 đồng/lần. Sau khi thu tiền, H chuyển cho P1 đến tài khoản tên Lưu Khánh P1 và tài khoản tên Châu Văn S.

Đối với Quách Hoàng L: Từ tháng 5/2023, quen biết người thanh niên tên Đ (không rõ lai lịch), liên lạc qua Telegram tài khoản của L theo mẫu tự tên tiếng H1, nghĩa tiếng Việt là Hoàng L, tài khoản của Đ là “Co Lan” (không biết số điện thoại). L mua ma túy của Đ 01 lần và giúp Đ giao ma túy 01 lần, cụ thể:

Khoảng cuối tháng 7/2023, Đ gọi L qua T3 nhờ nhận, giữ giúp ma túy nhưng không hứa hẹn về tiền công. Sau đó có người thanh niên (không rõ lai lịch) đi xe máy đến khu vực gần nhà số B A, Phường A, Quận H giao cho L 01 túi xách màu đen. Sau khi nhận, L đem về cất giữ tại chỗ ở và không mở ra kiểm tra nên không biết khối lượng, chất ma tuý đựng bên trong. Ngày 01/8/2023, Đ liên lạc nói L giao túi xách màu đen này đến nhà số F H, phường B, quận B. Theo lời Đ, L đặt ứng dụng Grabcar và đưa túi xách vải màu đen cho Nguyễn Kiều Thanh T1 (dì ruột) nhờ đem đến nhà số F H, phường B, quận B giao cho người đàn ông (sau này biết là Châu Văn S). Theo chỉ dẫn của L, T1 đem túi xách màu đen đến trước nhà số F H, phường B, quận B giao cho Châu Văn S. Châu Văn S nhận, cất giữ túi xách màu đen này đến sáng ngày 02/8/2023 thì giao lại cho Trịnh Khai N1 như đã nêu ở trên.

Tiếp theo, ngày 04/8/2023, L mua của Đ 110.000.000 đồng ma túy loại Ketamine, M và MDMA để bán. Đ cho người thanh niên (không rõ lai lịch) đem đến nhà B A, Phường A, Quận H, TP . giao cho L 01 hộp giấy, bên trong có 04 gói ma túy và 01 hộp giấy đựng 1.767 viên nén. L đem tất cả cất vào góc phòng số 6 lầu 2 nhà số B A Ngày 05/8/2023, L đem sang phòng số 7 cùng nhà nhờ Nguyễn Kiều Thanh T1 cất giúp 01 gói nylon chứa 200 viên nén. Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 07/8/2023, L bán 01 gói ma túy, loại Methamphetamine cho Võ Minh C1 với giá 1.500.000 đồng, C1 chuyển trả qua tài khoản M1 của L, số: 333368686886. Toàn bộ số ma túy còn lại bị thu giữ khi khám xét.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 445/2025/HS-ST ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

[1] Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40; Điều 17; Điều 58; Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Quách Đại H Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo Quách Đại H để đảm bảo thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Quách Đại H 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

[2] Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40; Điều 17; Điều 58; Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Quách Hoàng L Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo Quách Hoàng L để đảm bảo thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Quách Hoàng L 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Kiều Thanh T1, Trịnh Khai N1, Châu Văn S, Quách Mỹ N2, Võ Minh C1, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18/8/2025, các bị cáo Quách Đại H và Quách Hoàng L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Quách Đại H rút lại đơn kháng cáo. Bị cáo Quách Hoàng L vẫn giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Tại phiên toà, bị cáo Quách Đại H rút đơn kháng cáo. Việc rút kháng cáo của bị cáo H là hoàn toàn tự nguyện. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo H.

Đối với kháng cáo của bị cáo L xin giảm nhẹ hình phạt. Án sơ thẩm quy kết bị cáo L đúng tội danh. Bị cáo cho rằng khối lượng ma tuý không phải của bị cáo như vậy bị cáo kêu oan về số lượng ma tuý quy kết. Các cơ quan tố tụng đã thực hiện đúng quy định, quy kết số lượng ma tuý đối với bị cáo là đúng, không có oan. Ngoài lời khai của bị cáo, còn có lời khai của các đồng phạm khác, dì của bị cáo là T1. Ma túy bị thu giữ tại nhà. Kết luận giám định các loại ma túy từng loại rõ khi bắt bị cáo. Việc quy kết của Toà án cấp sơ thẩm không oan nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo L không có kêu oan. Thừa nhận đúng và chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Về khối lượng đồng ý vì bắt giữ, khám xét có kết luận giám định. Bị cáo L nhận túi từ một người mang đến là Đ. Chuỗi liên quan đến L, T1, N1 giao cho H, N2 đóng gói giao tiếp. Cấp sơ thẩm phân hoá vai trò chính xác, viện dẫn điểm b khoản 3 Điều 4 Luật 86 chuẩn xác. Bị cáo L có vai trò đồng phạm giản đơn. Về sự kiện thứ hai, bị cáo L giao nhận dùm cho Đ, có ý định mua ma tuý để sử dụng, khối lượng dưới 3 kg tuyên tử hình là nặng, bị cáo tự mua chưa đến 1,7 kg chưa đến mức tử hình. Sự kiện giao nhận 6,5 kg, không xem vai trò đồng phạm, vai trò của bị cáo trong giai đoạn đầu không khác gì T1, N1. Bị cáo không có sự trao đổi với Đ. Bị cáo được Đ nhờ. Hai đối tượng sừng sỏ là Đ, P1 chưa bắt được, các con mồi phải chịu. Vai trò của L không khác gì vai trò của T1, N1. Xử L mức án chung thân là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét vai trò của L trong sự kiện thứ 1, sửa án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo L xuống chung thân.

Bị cáo L trình bày: Thống nhất ý kiến của Luật sư.

Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trình bày: Bị cáo cho rằng quy kết oan, cái túi không phải của bị cáo mua bán, quy kết oan trọng lượng ma tuý là 6,5 kg. Phải xem xét bị cáo có oan không. T1, N1 vai trò khác bị cáo. Bị cáo không phải đồng phạm giản đơn. Bị cáo rủ rê T1 mua bán và cho T1 ma tuý sử dụng. Đ là các bị cáo khai. H cũng không biết Đ. Bị cáo là người cất giữ ma tuý 6,5 kg với mục đích chuyển giúp, không biết chuyển cho ai. Bị cáo L mua ma tuý bán kiếm lời, diễn ra trong thời gian dài. Đánh giá chuỗi hành vi toàn diện, không thể nhìn một góc như bị cáo khai. Không xác định được Đ. Việc bắt và thu giữ ma tuý tại nhà của bị cáo. Do vậy, các cơ quan tố tụng quy kết không tách ra. Vụ án có thật. Việc điều tra vụ án ma tuý rất khó khăn, phức tạp. Khám xét nơi ở của bị cáo. Trong quá trình điều tra, không có vi phạm thủ tục tố tụng. Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo thừa nhận. Án sơ thẩm quy kết bị cáo không sai. Bị cáo không có oan. Bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ gì đặc biệt.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo có ông Nguyễn Thanh H2 là chú vợ của bị cáo là liệt sĩ, có công.

Bị cáo L trình bày: Mong Hội đồng xét xử xem xét lời trình bày Luật sư bào chữa cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Quách Hoàng L thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu.

Quách Hoàng L: Quen biết một người thanh niên tên Đ (không rõ lai lịch) từ tháng 5/2023. L đã mua ma túy của Đ để bán lại và giúp Đ giao ma túy. Khoảng cuối tháng 7/2023, Đ gọi L qua T3 nhờ nhận và giữ ma túy. Sau khi nhận, L đem về cất giữ. Đến ngày 01/8/2023, Đ liên lạc nói L giao túi xách màu đen ma túy này đến nhà số F H, phường B, quận B. L nhờ Nguyễn Kiều Thanh T1 (dì ruột) đem đến giao cho Châu Văn S. S nhận và cất giữ túi xách này đến sáng ngày 02/8/2023 thì giao lại cho Trịnh Khai N1. Như vậy, Quách Hoàng L trực tiếp mua ma túy từ Đ. Nguyễn Kiều Thanh T1 giúp Đ, L chuyển túi xách bên trong có ma túy đến S và sau đó khối lượng ma túy chứa trong túi xách này bị bắt giữ khi S đang đưa đi theo chỉ dẫn của P1. Võ Minh C1 mua ma túy từ Quách Hoàng L để sử dụng.

Căn cứ khối lượng ma túy thu giữ và kết quả điều tra vụ án, xác định khối lượng ma túy bị cáo phải chịu trách nhiệm như sau: Quách Hoàng L phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng khối lượng 7.180,95 gam MDMA, 329,63 gam Ketamine, 616,51 gam Methamphetamine, 19,88 gam Methamphetamine, Ketamine thu giữ từ C (6516,8 gam MDMA), Võ Minh C1 (25,89 gam Methamphetamine) và khi khám xét chỗ ở của L; Nguyễn Kiều Thanh T1 cùng L chịu trách nhiệm hình sự đối với khối lượng 6.516,8 gam MDMA; Võ Minh C1 chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với khối lượng 25,89 gam Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phiên toà sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Quách Đại H, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo tự nguyện rút lại kháng cáo, tự nguyện, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút kháng cáo của bị cáo Quách Đại H, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Quách Đại H. Bản án hình sự sơ thẩm số: 445/2025/HS-ST ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Quách Đại H.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Quách Hoàng L, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Quách Hoàng L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội. Nhưng khi Toà án cấp sơ thẩm xét xử. Chính sách Nhà nước có sự thay đổi. Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Hình sự số 86/2025/QH15 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XV, K họp thứ 9 thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2025, khoản 18 Điều 1, điểm b khoản 1 Điều 4 thì:

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 30 kilôgam trở lên;

b) Heroine, C2, M, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 03 kilôgam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 1.200 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 300 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 09 kilôgam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 22 lít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hội đồng xét xử điều chỉnh áp dụng điều luật mới cho phù hợp là điểm b khoản 5, khoản 6 Điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 86/2025/QH15 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XV.

Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Quách Hoàng L là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, mặt khác đây còn là nguyên nhân làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng, là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo biết rõ ma túy là một loại tệ nạn xã hội, hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, bị cáo vẫn cố ý phạm tội.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cho bị cáo Quách Hoàng L như bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo cung cấp có chú vợ là liệt sĩ Nguyễn Thanh H2. Hội đồng xét xử ghi nhận cho bị cáo. Tuy nhiên, khối lượng mua bán ma túy quá lớn. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo L mức án tử hình là có căn cứ.

Đề nghị của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo Quách Hoàng L đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo L phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 348 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Quách Đại H. Bản án hình sự sơ thẩm số: 445/2025/HS-ST ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Quách Đại H có hiệu lực pháp luật.

2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Toà án nhân dân số 81/2025/QH15;

Căn cứ Nghị quyết số 85/2025/UBTV QH15 phê chuẩn đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về việc thành lập các Toà Phúc thẩm, Cục, Vụ và tương đương, Cơ quan báo chí của Toà án nhân dân tối cao;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Quách Hoàng L. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 445/2025/HS-ST ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 4, khoản 18 Điều 1, điểm b khoản 5, khoản 6 Điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số: 86/2025/QH15 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XV, K họp thứ 9 thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51, Điều 40; Điều 17; Điều 58; Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Quách Hoàng L Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo Quách Hoàng L để đảm bảo thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Quách Hoàng L 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Quách Hoàng L phải nộp là 200.000 đồng.

4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 445/2025/HS-ST ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước để xem xét.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ