- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức H phạm tội "CYGTT" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2019/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2020/HS-PT Ngày: 04 - 5 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Cao Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Trọng Điệp.
Ông Vũ Văn Minh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Nam – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 26/2020/TLPT-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Trần Đức H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2019/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trần Đức H, sinh ngày 03/6/1995 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn Bằng L, xã Thủy B, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiê ̣p: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá : 9/12; dân tộc: Kinh; giớ i tinh: Nam; tôn giáo:
́ Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần H và bà Tôn Nữ Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
*Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 08/9/2019, Trần Đức H đến nhà ông Tống Văn T ở tại thôn Hải C 1, xã Hương T, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế để tham dự đám cưới của con gái ông T. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, mọi người tham dự tiệc cưới dần dần ra về thì tại sân nhà ông T còn lại khoảng 10 người ngồi lại với nhau thành 02 bàn tròn và tiếp tục uống bia. Lúc này, anh Lương Ngọc H1 ngồi sát cạnh phía bên tay trái Trần Đức H. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Lương Ngọc H1 đứng dậy cầm ly bia mời mọi người trong bàn và nói “Uống xong đi chơi tiếp”. Nghe vậy thì bố của H nói lại: “Uống xong thì về nhà cả tai nạn”, H1 tiếp tục nói: “Con được đứa em gái mà về sớm rứa”. Nghe anh H1 nói vậy nên H đứng dậy nói: “Giờ anh đi chơi mô, chơi cái chi” và đưa cái ly thủy tinh đang cầm trên tay phải đánh một cái từ phải sang trái trúng vào vùng mặt anh Lương Ngọc H1. Hậu quả: Anh H1 bị thương ở vùng mặt, cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Trung ương Huế đến ngày 11/9/2019 thì ra viện.
Tại Bản kết luận giám định số 414 - 19/TgT ngày 01 tháng 10 năm 2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định: Đa vết thương phần mềm vùng mặt ảnh hưởng thẩm mỹ.
2. Tỷ lệ tổn thương chung cơ thể hiện tại là: 12%.”
3. Vật gây: Vật tày có nhiều cạnh sắc.”
Vật chứng thu giữ gồm: Nhiều mãnh vỡ thủy tinh màu trắng (của ly thủy tinh bị vỡ) và nhiều mãnh vỡ thủy tinh màu nâu (của chai bia Huda loại 450ml bị vỡ).
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Đức H đã bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại nên bị hại không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 39/2019/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xử phạt bị cáo Trần Đức H 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí , xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 04/12/2019, bị cáo Trần Đức H có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có quan điểm: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Đức H có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và nằm trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ. Bản án Hình sự sơ thẩm số 39/2019/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Bị cáo khai nhận hành vi của mình và vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo đề nghị xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/9/2019, trong khi đang ngồi dự tiệc cưới tại nhà ông Tống Văn T ở tại thôn Hải C 1, xã Hương T, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, vì không đồng ý với ý kiến của anh Lương Ngọc H1, bị cáo đã dùng ly thủy tinh (là hung khí nguy hiểm) đánh vào mặt anh H1 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.
Vớ i hành vi phạm tội như đã nêu trên, Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà kết án bị cáo Trần Đức H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luâ ̣t.
Xét kháng cáo của bị cáo Trần Đức H về việc xin giảm nhẹ hình phạt, thấy rằng: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính mạng, sức khỏe của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, chỉ vì không hài lòng với ý kiến của người khác đưa ra, bị cáo đã dùng ly thủy tinh đánh vào mặt bị hại gây thương tích với tỷ lệ 12%. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, thể hiện tính chất côn đồ. Cho nên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức án 01 năm 06 tháng tù là phù hợp và đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới để xem xét. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Đức H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Đức H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Đức H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2019/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Trần Đức H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Đức H phải chịu 200.000 đồng.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ 1 Vụ GĐKT 1 - TANDTC; - VKSND tỉnh TT - Huế; - Phòng PV06 CA tỉnh TT - Huế; - Sở Tư pháp; - TAND thị xã Hương Trà; - VKSND thị xã Hương Trà; - Cơ quan THAHS Công an thị xã Hương Trà; - Chi cục THADS thị xã Hương Trà; - Bị cáo; - Lưu HSVA, HCTP, KTNV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Cao Sơn |