- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại Cổ phần S - Huỳnh Văn N"
- Tòa quyết gì? dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025;
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 612/2025/DS-ST Ngày 24-9-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Thanh Thùy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Xuân Đào;
Ông Võ Thái Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đại – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 327/2025/TLST-DS ngày 28
tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 225/2025/QĐXXST-DS
ngày 05 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 228/2025/QĐST-DS
ngày 27 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Trụ sở: Đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường
D, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Dương Văn T, địa chỉ:
đường A, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường D, Thành
phố Hồ Chí Minh); là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy
quyền ngày 04/11/2024) (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn N (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Đ, xã E, huyện Ê, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: ấp G, xã H,
Thành phố Hồ Chí Minh).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2025 và lời khai của người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn – ông Dương Văn T thì:
Ngày 09/6/2022, ông Huỳnh Văn N ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần
S Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi chung là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022). Căn cứ vào thu nhập của ông Huỳnh Văn N, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã đồng ý cấp cho ông Huỳnh Văn N thẻ tín dụng Visa số 436438-3977 với hạn mức sử dụng là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Huỳnh Văn N đã thực hiện các giao dịch
với tổng số tiền là 34.020.008đ (ba mươi bốn triệu không trăm hai mươi nghìn không trăm lẻ tám đồng).
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông
Huỳnh Văn N đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 17.750.837đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn tám trăm ba mươi bảy đồng), thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Do ông Huỳnh Văn N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản Điều
khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S), Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông Huỳnh Văn N không có thiện chí trả nợ nên ngày 05/9/2023 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Huỳnh Văn N và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng) sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S) và áp dụng lãi suất nợ quá hạn tính trên nợ gốc – số nợ quá hạn nêu trên (bằng 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn 2.48%) là 3.72%/tháng.
Tính đến ngày 24/9/2025, ông Huỳnh Văn N còn nợ Ngân hàng Thương mại
Cổ phần S các khoản sau: Nợ gốc là 25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng), lãi quá hạn là 23.721.750đ (hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi đồng), tổng cộng là 49.208.179đ (bốn mươi chín triệu hai trăm lẻ tám nghìn một trăm bảy mươi chín đồng).
Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn
N phải thanh toán ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền còn thiếu của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022 tính đến ngày 24/9/2025 là 49.208.179đ (bốn mươi chín triệu hai trăm lẻ tám nghìn một trăm bảy mươi chín đồng), gồm nợ gốc là 25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng), lãi quá hạn là 23.721.750đ (hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi đồng) và có trách nhiệm thanh
toán khoản lãi phát sinh từ ngày 25/9/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi quy
định tại Hợp đồng.
Bị đơn – ông Huỳnh Văn N đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình
bày ý kiến.
Theo kết quả xác minh của Công an xã H, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công
văn số 1270/TANDKV10 ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành
phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của đương sự thì ông Huỳnh
Văn N không thực tế cư trú tại địa chỉ ấp I (ấp Đ cũ), xã P, huyện Ê, Thành phố Hồ
Chí Minh và đang cư ngụ tại ấp K, xã L, huyện M, tỉnh Long An.
Theo kết quả xác minh ngày 17/01/2025 của Công an xã O, huyện M, tỉnh
Long An tại Công văn số 3521/TAHBC ngày 15/10/2024 của Tòa án nhân dân
huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của
đương sự thì ông Huỳnh Văn N có hộ khẩu thường trú tại ấp Ô, xã O, huyện M,
tỉnh Long An nhưng thực tế không còn cư trú tại địa phương do nhà nằm trong
diện giải tỏa, đền bù; ông Huỳnh Văn N có khai báo thông tin về nơi ở hiện tại tại
địa chỉ, ấp I, xã P, huyện Ê, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả xác minh ngày 21/01/2025 của Công an xã L, huyện M, tỉnh
Long An tại Công văn số 4318/TAHBC ngày 03/12/2024 của Tòa án nhân dân
huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của
đương sự thì ông Huỳnh Văn N không có đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú tại
ấp K, xã L, huyện M, tỉnh Long An.
Theo kết quả xác minh ngày 14/7/2025 của Công an xã H, Thành phố Hồ Chí
Minh tại Công văn số 3116/TANDKV10 ngày 08/7/2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của đương sự
thì ông Huỳnh Văn N thực tế cư trú tại địa chỉ Ấp Đ, xã E, huyện Ê, Thành phố Hồ
Chí Minh (nay là: ấp G, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh) từ năm 2022 đến tháng
4/2025, từ tháng 4/2025 đến nay đã bỏ địa phương đi đâu không rõ.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Dương Văn T có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt Ông.
Bị đơn – ông Huỳnh Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt
không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều năm 2025. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại khoản 1
Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều năm 2025. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều
70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025. Bị đơn vắng mặt không có lý du và không thực hiện đúng quy định tại Điều 70; Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Về án phí: Ông Huỳnh Văn N phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi
kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn N trả số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022. Căn cứ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 09/6/2022 thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của ông Huỳnh Văn N theo địa chỉ được ghi trong hợp đồng bằng văn bản nên được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025; điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án. Căn cứ kết quả xác minh ngày 14/7/2025 của Công an xã H, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công văn số 3116/TANDKV10 ngày 08/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của đương sự thì ông Huỳnh Văn N có địa chỉ cư trú cuối cùng là Ấp Đ, xã E, huyện Ê, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: ấp G, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh) và đã thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thông báo cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 277 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được coi là cố tình giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025; điểm đ khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên
đơn – ông Dương Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn – ông Huỳnh Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1
Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều năm 2025, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.
Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:
Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022 (gồm Giấy đề
nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 09/6/2022, Bản điều khoản và
Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S) có chữ
ký xác nhận của ông Huỳnh Văn N và đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
nên có cơ sở xác định ngày 09/6/2022 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã cấp
thẻ tín dụng cho ông Huỳnh Văn N với hạn mức sử dụng là 20.000.000đ (hai mươi
triệu đồng), mục đích để tiêu dùng cá nhân. Việc giao kết Hợp đồng sử dụng thẻ
tín dụng ngày 09/6/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Huỳnh
Văn N là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức
xã hội nên đã phát sinh hiệu lực.
Căn cứ Bảng tóm tắt sao kê ngày 06/8/2025 thì trong quá trình thực
hiện hợp đồng, ông Huỳnh Văn N đã thực hiện các giao dịch tính đến ngày
25/6/2023 với tổng số tiền là 34.020.008đ (ba mươi bốn triệu không trăm hai mươi
nghìn không trăm lẻ tám đồng), phí trễ hạn là 1.072.402đ (một triệu không trăm
bảy mươi hai nghìn bốn trăm lẻ hai đồng), lãi là 29.945.924đ (hai mươi chín triệu
chín trăm bốn mươi lăm nghìn chín trăm hai mươi bốn đồng), phí là 1.920.682đ
(một triệu chín trăm hai mươi nghìn sáu trăm tám mươi hai đồng). Ông Huỳnh Văn
N đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền là 17.750.837đ
(mười bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn tám trăm ba mươi bảy đồng). Sau khi
trừ các khoản phải thanh toán theo thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 21
Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân
hàng Thương mại Cổ phần S lần lượt là: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước,
giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản
phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa
trong kỳ thì số tiền ông Huỳnh Văn N còn nợ tính đến ngày 05/9/2023 là
25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi
chín đồng). Do ông Huỳnh Văn N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày
05/9/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của
ông Huỳnh Văn N và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 25.486.429đ (hai mươi lăm
triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng) sang nợ quá hạn
là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều
kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và quy
định tại Điều 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ
chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017 nên có cơ
sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, buộc ông
Huỳnh Văn N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ
gốc còn lại là 25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn
trăm hai mươi chín đồng).
Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi: Căn cứ Quyết định số
2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ Thẻ Sacombank phát hành tại Việt Nam; mục 1.24 phần giải thích thuật ngữ và Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì mức lãi suất trong hạn được áp dụng đối với Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022 là 2.48%/tháng. Mục 1.24 phần giải thích thuật ngữ và Điều 24.4 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S quy định lãi suất quá hạn là 150% lãi suất được áp dụng, tương đương 3.72%/tháng (2.48%/tháng x 150%). Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chuyển số nợ gốc chưa thanh toán là 25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng) sang nợ quá hạn từ ngày 05/9/2023 và áp dụng mức lãi suất 3.72%/tháng được tính trên số nợ gốc tương ứng với thời gian vi phạm nghĩa vụ thì số nợ lãi quá hạn tính đến ngày 24/9/2025 là 23.721.750đ (hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi đồng) là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Ngân hàng Thương mại Cổ
phần S chỉ yêu cầu ông Huỳnh Văn N có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu ai cùng với ông Huỳnh Văn N thực hiện nghĩa vụ dân sự nêu trên. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện mục đích sử dụng khoản vay theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022 là tiêu dùng cá nhân; đồng thời, không có cơ sở xác định ông Huỳnh Văn N đã sử dụng số tiền vay để phục vụ nhu cầu chung với ai khác nên không có cơ sở để buộc ai phải cùng có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ của ông Huỳnh Văn N.
Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại
Cổ phần S, buộc ông Huỳnh Văn N có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022 tính đến ngày 24/9/2025 là 49.208.179đ (bốn mươi chín triệu hai trăm lẻ tám nghìn một trăm bảy mươi chín đồng), gồm nợ gốc là 25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng), lãi quá hạn là 23.721.750đ (hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi đồng) và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 25/9/2025 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025; Điều 27 của Nghị quyết Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nên ông Huỳnh Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.460.409đ (hai triệu bốn trăm sáu mươi nghìn bốn trăm lẻ chín đồng); Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025;
- Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày
27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân;
- Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017;
- Căn cứ vào Điều 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định
của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần
S.
Buộc ông Huỳnh Văn N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương
mại Cổ phần S tổng số tiền còn nợ phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
ngày 09/6/2022 tính đến ngày 24/9/2025 là 49.208.179đ (bốn mươi chín triệu hai
trăm lẻ tám nghìn một trăm bảy mươi chín đồng), trong đó, nợ gốc là 25.486.429đ
(hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng)
và lãi quá hạn là 23.721.750đ (hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn bảy
trăm năm mươi đồng).
Kể từ ngày 25/9/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Huỳnh Văn N còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên
thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Huỳnh Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.460.409đ (hai triệu
bốn trăm sáu mươi nghìn bốn trăm lẻ chín đồng).
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự
sơ thẩm đã nộp là 1.014.337đ (một triệu không trăm mười bốn nghìn ba trăm ba
mươi bảy đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0052359 ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ê, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân Thành phố Hồ Chí Minh).
Thi hành tại Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại của Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024.
4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là
15 (mười lăm) ngày kể từ ngày đương sự được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; - Các đương sự (03); - Lưu: HSVA, VT (15). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Nguyễn Thanh Thùy |