vanban.org

Bản án 612/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025;

27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Thương mại Cổ phần S - Huỳnh Văn N"
  • Tòa quyết gì? dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025;
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 612/2025/DS-ST
Ngày 24-9-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Thanh Thùy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Xuân Đào;

Ông Võ Thái Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân

khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 327/2025/TLST-DS ngày 28

tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 225/2025/QĐXXST-DS

ngày 05 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 228/2025/QĐST-DS

ngày 27 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Trụ sở: Đường A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường

D, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Dương Văn T, địa chỉ:

đường A, phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường D, Thành

phố Hồ Chí Minh); là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy

quyền ngày 04/11/2024) (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn N (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Đ, xã E, huyện Ê, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: ấp G, xã H,

Thành phố Hồ Chí Minh).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 31/3/2025 và lời khai của người đại diện hợp

pháp của nguyên đơn – ông Dương Văn T thì:

Ngày 09/6/2022, ông Huỳnh Văn N ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần

S Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi chung là Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022). Căn cứ vào thu nhập của ông Huỳnh Văn N, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã đồng ý cấp cho ông Huỳnh Văn N thẻ tín dụng Visa số 436438-3977 với hạn mức sử dụng là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Huỳnh Văn N đã thực hiện các giao dịch

với tổng số tiền là 34.020.008đ (ba mươi bốn triệu không trăm hai mươi nghìn không trăm lẻ tám đồng).

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông

Huỳnh Văn N đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 17.750.837đ (mười bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn tám trăm ba mươi bảy đồng), thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 21 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Do ông Huỳnh Văn N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 24 của Bản Điều

khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S), Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông Huỳnh Văn N không có thiện chí trả nợ nên ngày 05/9/2023 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Huỳnh Văn N và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng) sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S) và áp dụng lãi suất nợ quá hạn tính trên nợ gốc – số nợ quá hạn nêu trên (bằng 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn 2.48%) là 3.72%/tháng.

Tính đến ngày 24/9/2025, ông Huỳnh Văn N còn nợ Ngân hàng Thương mại

Cổ phần S các khoản sau: Nợ gốc là 25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng), lãi quá hạn là 23.721.750đ (hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi đồng), tổng cộng là 49.208.179đ (bốn mươi chín triệu hai trăm lẻ tám nghìn một trăm bảy mươi chín đồng).

Do đó, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn

N phải thanh toán ngay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền còn thiếu của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022 tính đến ngày 24/9/2025 là 49.208.179đ (bốn mươi chín triệu hai trăm lẻ tám nghìn một trăm bảy mươi chín đồng), gồm nợ gốc là 25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng), lãi quá hạn là 23.721.750đ (hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi đồng) và có trách nhiệm thanh

toán khoản lãi phát sinh từ ngày 25/9/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi quy

định tại Hợp đồng.

Bị đơn – ông Huỳnh Văn N đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố

tụng và triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình

bày ý kiến.

Theo kết quả xác minh của Công an xã H, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công

văn số 1270/TANDKV10 ngày 27/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành

phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của đương sự thì ông Huỳnh

Văn N không thực tế cư trú tại địa chỉ ấp I (ấp Đ cũ), xã P, huyện Ê, Thành phố Hồ

Chí Minh và đang cư ngụ tại ấp K, xã L, huyện M, tỉnh Long An.

Theo kết quả xác minh ngày 17/01/2025 của Công an xã O, huyện M, tỉnh

Long An tại Công văn số 3521/TAHBC ngày 15/10/2024 của Tòa án nhân dân

huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của

đương sự thì ông Huỳnh Văn N có hộ khẩu thường trú tại ấp Ô, xã O, huyện M,

tỉnh Long An nhưng thực tế không còn cư trú tại địa phương do nhà nằm trong

diện giải tỏa, đền bù; ông Huỳnh Văn N có khai báo thông tin về nơi ở hiện tại tại

địa chỉ, ấp I, xã P, huyện Ê, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo kết quả xác minh ngày 21/01/2025 của Công an xã L, huyện M, tỉnh

Long An tại Công văn số 4318/TAHBC ngày 03/12/2024 của Tòa án nhân dân

huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của

đương sự thì ông Huỳnh Văn N không có đăng ký thường trú, tạm trú, lưu trú tại

ấp K, xã L, huyện M, tỉnh Long An.

Theo kết quả xác minh ngày 14/7/2025 của Công an xã H, Thành phố Hồ Chí

Minh tại Công văn số 3116/TANDKV10 ngày 08/7/2025 của Tòa án nhân dân khu

vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của đương sự

thì ông Huỳnh Văn N thực tế cư trú tại địa chỉ Ấp Đ, xã E, huyện Ê, Thành phố Hồ

Chí Minh (nay là: ấp G, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh) từ năm 2022 đến tháng

4/2025, từ tháng 4/2025 đến nay đã bỏ địa phương đi đâu không rõ.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Dương Văn T có đơn đề nghị

xét xử vắng mặt Ông.

Bị đơn – ông Huỳnh Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt

không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã chấp hành đúng

các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một

số điều năm 2025. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại khoản 1

Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số

điều năm 2025. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định tại Điều

70; Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025. Bị đơn vắng mặt không có lý du và không thực hiện đúng quy định tại Điều 70; Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu

khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Về án phí: Ông Huỳnh Văn N phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra

tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi

kiện yêu cầu ông Huỳnh Văn N trả số tiền còn nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022. Căn cứ Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 09/6/2022 thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của ông Huỳnh Văn N theo địa chỉ được ghi trong hợp đồng bằng văn bản nên được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025; điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án. Căn cứ kết quả xác minh ngày 14/7/2025 của Công an xã H, Thành phố Hồ Chí Minh tại Công văn số 3116/TANDKV10 ngày 08/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh tình trạng cư trú của đương sự thì ông Huỳnh Văn N có địa chỉ cư trú cuối cùng là Ấp Đ, xã E, huyện Ê, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: ấp G, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh) và đã thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thông báo cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S biết về nơi cư trú mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 277 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được coi là cố tình giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025; điểm đ khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên

đơn – ông Dương Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn – ông Huỳnh Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1

Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số

điều năm 2025, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt họ.

Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc:

Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022 (gồm Giấy đề

nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 09/6/2022, Bản điều khoản và

Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S) có chữ

ký xác nhận của ông Huỳnh Văn N và đại diện Ngân hàng Thương mại Cổ phần S

nên có cơ sở xác định ngày 09/6/2022 Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã cấp

thẻ tín dụng cho ông Huỳnh Văn N với hạn mức sử dụng là 20.000.000đ (hai mươi

triệu đồng), mục đích để tiêu dùng cá nhân. Việc giao kết Hợp đồng sử dụng thẻ

tín dụng ngày 09/6/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Huỳnh

Văn N là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức

xã hội nên đã phát sinh hiệu lực.

Căn cứ Bảng tóm tắt sao kê ngày 06/8/2025 thì trong quá trình thực

hiện hợp đồng, ông Huỳnh Văn N đã thực hiện các giao dịch tính đến ngày

25/6/2023 với tổng số tiền là 34.020.008đ (ba mươi bốn triệu không trăm hai mươi

nghìn không trăm lẻ tám đồng), phí trễ hạn là 1.072.402đ (một triệu không trăm

bảy mươi hai nghìn bốn trăm lẻ hai đồng), lãi là 29.945.924đ (hai mươi chín triệu

chín trăm bốn mươi lăm nghìn chín trăm hai mươi bốn đồng), phí là 1.920.682đ

(một triệu chín trăm hai mươi nghìn sáu trăm tám mươi hai đồng). Ông Huỳnh Văn

N đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền là 17.750.837đ

(mười bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn tám trăm ba mươi bảy đồng). Sau khi

trừ các khoản phải thanh toán theo thứ tự thanh toán được quy định tại Điều 21

Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân

hàng Thương mại Cổ phần S lần lượt là: Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước,

giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước, giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước, các khoản

phí và/hoặc lãi trong kỳ, giao dịch rút tiền mặt trong kỳ, giao dịch mua hàng hóa

trong kỳ thì số tiền ông Huỳnh Văn N còn nợ tính đến ngày 05/9/2023 là

25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi

chín đồng). Do ông Huỳnh Văn N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày

05/9/2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của

ông Huỳnh Văn N và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 25.486.429đ (hai mươi lăm

triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng) sang nợ quá hạn

là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 24.4 của Bản Điều khoản và điều

kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và quy

định tại Điều 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ

chức tín dụng năm 2010 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017 nên có cơ

sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, buộc ông

Huỳnh Văn N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ

gốc còn lại là 25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn

trăm hai mươi chín đồng).

Về yêu cầu bị đơn thanh toán nợ lãi: Căn cứ Quyết định số

2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ Thẻ Sacombank phát hành tại Việt Nam; mục 1.24 phần giải thích thuật ngữ và Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S thì mức lãi suất trong hạn được áp dụng đối với Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022 là 2.48%/tháng. Mục 1.24 phần giải thích thuật ngữ và Điều 24.4 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S quy định lãi suất quá hạn là 150% lãi suất được áp dụng, tương đương 3.72%/tháng (2.48%/tháng x 150%). Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã chuyển số nợ gốc chưa thanh toán là 25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng) sang nợ quá hạn từ ngày 05/9/2023 và áp dụng mức lãi suất 3.72%/tháng được tính trên số nợ gốc tương ứng với thời gian vi phạm nghĩa vụ thì số nợ lãi quá hạn tính đến ngày 24/9/2025 là 23.721.750đ (hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi đồng) là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Ngân hàng Thương mại Cổ

phần S chỉ yêu cầu ông Huỳnh Văn N có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không yêu cầu ai cùng với ông Huỳnh Văn N thực hiện nghĩa vụ dân sự nêu trên. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện mục đích sử dụng khoản vay theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022 là tiêu dùng cá nhân; đồng thời, không có cơ sở xác định ông Huỳnh Văn N đã sử dụng số tiền vay để phục vụ nhu cầu chung với ai khác nên không có cơ sở để buộc ai phải cùng có trách nhiệm liên đới đối với khoản nợ của ông Huỳnh Văn N.

Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại

Cổ phần S, buộc ông Huỳnh Văn N có trách nhiệm thanh toán số tiền còn nợ phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 09/6/2022 tính đến ngày 24/9/2025 là 49.208.179đ (bốn mươi chín triệu hai trăm lẻ tám nghìn một trăm bảy mươi chín đồng), gồm nợ gốc là 25.486.429đ (hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng), lãi quá hạn là 23.721.750đ (hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi đồng) và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 25/9/2025 theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng đã giao kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng

dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025; Điều 27 của Nghị quyết Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nên ông Huỳnh Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.460.409đ (hai triệu bốn trăm sáu mươi nghìn bốn trăm lẻ chín đồng); Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1

Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng

dân sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2025;

- Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày

27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng

một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của Tòa án nhân dân;

- Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 đã

được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017;

- Căn cứ vào Điều 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội

đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định

của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

- Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng

12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một

số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần

S.

Buộc ông Huỳnh Văn N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương

mại Cổ phần S tổng số tiền còn nợ phát sinh theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

ngày 09/6/2022 tính đến ngày 24/9/2025 là 49.208.179đ (bốn mươi chín triệu hai

trăm lẻ tám nghìn một trăm bảy mươi chín đồng), trong đó, nợ gốc là 25.486.429đ

(hai mươi lăm triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn bốn trăm hai mươi chín đồng)

và lãi quá hạn là 23.721.750đ (hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi mốt nghìn bảy

trăm năm mươi đồng).

Kể từ ngày 25/9/2025 cho đến khi thi hành án xong, ông Huỳnh Văn N còn

phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên

thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Huỳnh Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.460.409đ (hai triệu

bốn trăm sáu mươi nghìn bốn trăm lẻ chín đồng).

Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí dân sự

sơ thẩm đã nộp là 1.014.337đ (một triệu không trăm mười bốn nghìn ba trăm ba

mươi bảy đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0052359 ngày 25 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ê, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân Thành phố Hồ Chí Minh).

Thi hành tại Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại của Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều các năm 2014, 2018, 2020, 2022, 2024.

4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm. Thời hạn kháng cáo là

15 (mười lăm) ngày kể từ ngày đương sự được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ