- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Kiều Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– Bản án số: 610/2022/HS-PT Ngày: 26/7/2022 NHÂN DANH |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trần Đức Hiếu
Thẩm phán:
Ông Phạm Năng Thành
Thẩm phán:
Ông Phan Huy Cương
- Thư ký phiên tòa:
Ông Lý Minh Chính – Thư ký Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 26/7/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 353/2022/TLPT-HS ngày 09 tháng 05 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử phúc thẩm số 407/2022/QĐXXPT-HS ngày 12/7/2022 đối với bị cáo Kiều Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2022/HS-ST ngày 28/03/2022 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Bị cáo có kháng cáo: Kiều Văn H, sinh năm 1991; Nơi đăng ký thường trú: Thôn TĐ , xã ĐT, huyện TT, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố là Kiều Văn H sinh năm 1970 và mẹ là Phí Thị Th sinh năm 1969; Vợ là Nguyễn Thị C (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 70/2018/HSST ngày 25/9/2018, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Nhân thân: Ngày 22/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thạch Thất khởi tố bị can về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự. Bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thạch Thất bắt truy nã từ ngày 28/8/2021. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Bị hại không kháng cáo: Anh Hà Hữu T, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Số X ngõ Y đường PBV, phường CN2, quận BTL, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/6/2021 anh Hà Hữu T đăng trên trang facebook cá nhân “Hà Hữu T” với nội dung đặt mua các loại sắt thép như: 04 tấm thép nhám, 11 cây sắt I300 dài 12m, 01 cây sắt I300 dài 6m, 06 cây thép tròn đặc D14, 02 cây thép tròn đặc D20, 01 cây thép tròn đặc D32. Mặc dù không có thép để bán cho Anh T nhưng Kiều Văn H sử dụng tài khoản facebook “Lặng thầm”, số điện thoại xxxxxxxxxx và tài khoản Zalo “Đại Phát” liên lạc với Anh T, giới thiệu là Giám đốc công ty TNHH thiết kế thi công nội ngoại thất GV, địa chỉ tại xã ĐT, huyện TT, thành phố Hà Nội có mối sắt thép trong Bình Dương có khả năng cung ứng được đúng loại thép mà Anh T đang cần mua. Để tạo niềm tin cho Anh T, H đã chụp và gửi cho Anh T Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty TNHH thiết kế thi công nội ngoại thất GV và Căn cước công dân của H, và báo giá đơn hàng trị giá 182.000.000 đồng, Anh T đồng ý. H yêu cầu Anh T chuyển khoản đặt cọc trước số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản số xxxxxxxxxxxx tên Kiều Văn H tại Ngân hàng Á Châu. Ngày 15/6/2021, khi đang ở nhà tại địa chỉ số X, ngõ Y, đường PBV, phường CN2, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội Anh T đã chuyển khoản cho H. Đến ngày 18/6/2021, H yêu cầu Anh T chuyển tiếp 5.000.000 đồng vào số tài khoản 9704229203308430944 tên Phạm Thị Tú O, Ngân hàng TMCP Quân đội cho H, Anh T đồng ý và chuyển khoản. Đến ngày 22/6/2021, H gọi điện và nói dối Anh T lái xe, phụ xe chở thép từ thành phố Hồ Chí Minh ra tiếp xúc với F0 Covid, phải cách ly, yêu cầu Anh T chuyển thêm 15.000.000 đồng nữa nên Anh T tiếp tục chuyển số tiền trên vào số tài khoản 199199988888, sau đó H chặn số điện thoại và Zalo của Anh T và chi tiêu hết 40.000.000 đồng. Ngày 27/6/2021 Anh T đến Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội trình báo.
Tại cơ quan điều tra, Kiều Văn H khai nhận hành vi của mình như trên và khai: H không có quan hệ, không hợp tác làm ăn với Anh T. H thành lập và đăng ký kinh doanh công ty TNHH thiết kế thi công nội thất GV năm 2018, đến đầu năm 2020 thì dừng hoạt động do làm ăn thua lỗ. Bản thân H không có số sắt thép trên, H nhận 40.000.000 đồng mục đích để chi tiêu cá nhân.
Đối với chị Phạm Thị Tú O khai: Số tài khoản và số điện thoại xxxxxxxxxx đăng ký tài khoản trên không phải của chị, chị không đăng ký, không sử dụng. Chữ ký chữ viết theo công văn số 4750 của Ngân hàng MB cũng không phải của chị, chị không biết, không có bất kỳ mối liên hệ nào với Kiều Văn H nên không có căn cứ xem xét về vai trò đồng phạm với H.
Xác minh tại Chi cục thuế khu vực Thạch Thất – Quốc Oai xác định: Công ty TNHH thiết kế thi công nội ngoại thất GV đã dừng hoạt động từ ngày 10/6/2020, hiện vẫn còn nợ tiền thuế.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 19/10/2021, ông Kiều Văn H - Bố đẻ của Kiều Văn H đã bồi thường 40.000.000 đồng cho anh Hà Hữu T. Anh T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho H.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 36/2022/HS-ST ngày 28/03/2022 Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Kiều Văn H 24 (Hai mươi tư) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành hình phạt.
Ngoài ra, bản án hình sự sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 04/4/2022, bị cáo Kiều Văn H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thể hiện thái độ ăn năn hối cải và công nhận bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng về tội danh, không oan. Bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do gia đình bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả và được người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hiện bị cáo đang nuôi con, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo Kiều Văn H có đơn kháng cáo là hợp lệ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ các Điều 331; 332; 333 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo về hình thức. Về nội dung: sau khi phân tích tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và tại phiên tòa bị cáo cũng không xuất trình được chứng cứ, tài liệu mới để giảm nhẹ hình phạt; mức hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo về nội dung, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì. Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định bị cáo Kiều Văn H có kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận về hình thức.
[2] Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
- Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm quy kết là đúng tội danh, không oan. Đối chiếu lời khai của bị cáo với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do biết anh Hà Hữu T có nhu cầu mua sắt thép, bị cáo đã lợi dụng danh nghĩa Công ty TNHH thiết kế thi công nội ngoại thất GV và đưa ra thông tin gian dối về việc có sắt thép để bán làm Anh T tin và 3 lần giao tiền cho bị cáo, cụ thể ngày 15/6/2021 là 20.000.000 đồng, ngày 18/6/2021 là 5.000.000 đồng và ngày 22/6/2021 là 15.000.000 đồng, tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của Anh T là 40.000.000 đồng. Bản án hình sự sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Kiều Văn H 24 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, nay lại cố ý phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Ngày 22/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thạch Thất đã ra quyết định khởi tố bị can Kiều Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự. Ngày 28/8/2021, bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thạch Thất bắt truy nã và tạm giam.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho người bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 24 tháng tù. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định: Áp dụng nguyên tắc xử lý hình sự khoan hồng đối với người phạm tội tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, trong vụ án này bị cáo đã khắc phục toàn bộ số tiền 40.000.000 đồng đã chiếm đoạt và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm một phần hình phạt tù cho bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
- Về tính thời hạn chấp hành hình phạt tù của bản án: Bị cáo Kiều Văn H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Thạch Thất bắt truy nã ngày 28/8/2021 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự. Ngày 11/10/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Bắc Từ Liêm khởi tố bị can điều tra vụ án này. Do đó, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt truy nã 28/8/2021.
[3] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa quyết định của bản án sơ thẩm số 36/2022/HS-ST ngày 28/03/2022 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội về hình phạt, cụ thể:
Tuyên bố bị cáo Kiều Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Kiều Văn H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt truy nã 28/8/2021.
[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Kiều Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Về hiệu lực bản án: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hà Nội; - CQ THAHS TP Hà Nội; - CQCSĐT quận Bắc Từ Liêm; - VKSND quận Bắc Từ Liêm; - TAND quận Bắc Từ Liêm; - CQTHADS quận Bắc Từ Liêm; - Bị cáo; Bị hại. - Lưu Hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Hiếu |