- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với ông Bùi Chí T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
N N N N
N
N
N M
N N
- d - nh h T NH AN G ANG Bản án số: 61/2020/HNGĐ-ST Ngày: 03/3/2020 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung”
NHÂN DANH
N
N
N
N M
N N N N
N N
Thành phần Hội đồng x t x gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thiện Hoàn;
Ông Lê Văn Phu
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Trinh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 467/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2020 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30/01/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1989 (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ 41. ấp VN, xã VT, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Bùi Chí T, sinh năm: 1989 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 08, ấp AH, xã KA, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
N
N Ụ N:
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà D trình bày: Hôn nhân của bà và ông T xác lập do tự tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã KA, huyện An Phú, tỉnh An Giang vào ngày 28/4/2010. Cuộc sống chung thời gian đầu tương đối hạnh phúc nhưng gần đây thường hay phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, cuộc sống không hợp, từ đó cả hai không còn sống chung với nhau từ tháng 5 năm 2019 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, nay xin ly hôn với ông T.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Bùi Mỹ L, sinh ngày 04/9/2010, Bùi Trí T1, sinh ngày 26/9/2011 và Bùi Ngọc A, sinh ngày 20/02/2014. Cháu T1 đang sống cùng bà, cháu L và cháu A sống chung với ông T. Nay ly hôn, yêu cầu nuôi 02 cháu T1, L và giao cháu A cho ông T nuôi dạy. Về nghĩa vụ cấp dưỡng thì không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là ông Bùi Chí T không có văn bản hoặc ý kiến trình bày đối với yêu cầu của bà D. Tuy nhiên tại phiên hoà giải ngày 07/01/2020 ông cho biết:
- Về quan hệ hôn nhân: Đúng như lời trình của bà D về thời gian chung sống, việc đăng ký kết hôn cũng như nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, thời gian không còn sống chung. Không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Có 03 con chung, nếu ly hôn yêu cầu nuôi dạy cả 03 con và không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Cháu Bùi Trí T1 có nguyện vọng muốn sống cùng mẹ khi cha, mẹ ly hôn. Đối với cháu Bùi Mỹ L, do không làm việc được với cháu nên không thể ghi nhận nguyện vọng của cháu muốn sống với ai trong trường hợp cha, mẹ ly hôn.
Tại phiên tòa:
Bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn, xin nuôi cháu T1 và không yêu cầu cấp dưỡng, giao 02 cháu L và A cho ông T nuôi dạy.
Ông T vắng mặt.
Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên tòa phát biểu: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong việc xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng quá trình hòa giải, xác minh, thu thập chứng cứ… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án và quá trình hỏi đáp tại phiên tòa cho thấy hôn nhân giữa bà D và ông T có mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Giao cháu T1 cho bà D nuôi dạy, giao cháu L và A cho ông T được nuôi dạy. Bà D và ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do các bên không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà D phải chịu án phí về hôn nhân gia đình.
N ẬN ỊN
N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà D khởi kiện yêu cầu ly hôn, quyền nuôi con chung với ông T, các đương sự có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, nuôi con chung và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú.
Về sự vắng mặt của đương sự: Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà D và ông T xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định nên là hôn nhân hợp pháp được công nhận theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu của bà D xin ly hôn với ông T thì thấy: Trong đời sống hôn nhân giữa hai bên thường hay phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vả và cả hai đã không còn chung sống với nhau từ tháng 5 năm 2019 đến nay, giữa hai bên không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm gia đình. Mặc dù ông T không đồng ý ly hôn như ý kiến đã trình bày tại biên bản hoà giải ngày 07/01/2020 nhưng ông không đưa ra được chứng cứ chứng minh mình vẫn còn tình cảm với bà D, đã chủ động hàn gắn lại tình cảm gia đình. Tại phiên tòa bà D vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T, không đồng ý đoàn tụ vì vậy có đủ cơ sở xác định mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng nên yêu cầu ly hôn của bà D là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về việc nuôi con chung, cấp dưỡng: Căn cứ nguyện vọng của cháu Bùi Trí T1, tiếp tục giao cháu cho bà D nuôi dạy. Đối với 02 cháu Bùi Mỹ L và Bùi Ngọc A hiện đang sống với ông T, cháu L đã trên 07 tuổi nhưng Toà án không ghi nhận được ý kiến của cháu về việc muốn sống với cha hay mẹ khi ly hôn nên để tránh việc thay đổi môi trường sống có thể ảnh hưởng cho sự phát triển ổn định về tâm, sinh lý của các cháu, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giao 02 cháu cho ông T được tiếp tục nuôi dạy.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do ông T và bà D đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Việc thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng…được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết
[5] Về nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên:
ỊN :
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 56, khoản 3 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với ông Bùi Chí T.
- Về con chung: Bà D được tiếp tục nuôi dạy cháu Bùi Trí T1, sinh ngày 26/9/2011 hiện đang sống chung với bà. Ông T được tiếp tục nuôi dạy cháu Bùi Mỹ L, sinh ngày 04/9/2010, và Bùi Ngọc A, sinh ngày 20/02/2014 đang sống chung với ông. Ông T, bà D không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung lẫn nhau và không được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa T1 niên.
- Về án phí: Bà D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0011776 ngày 17/12/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38, thuộc Quyển số 01 do của Uỷ ban nhân dân xã KA, huyện An Phú, tỉnh An Giang cấp ngày 28/4/2010 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
M.
ỒN É Ử SƠ ẨM * Nơi gủi:
ẨM
N –
Ọ
ÊN
- TAND tỉnh AG;
- VKSND tỉnh AG;
- VKS H. AP;
- THADS H. AP;
- UBND xã KA, AP;
- Các đương sự;
- Lưu HS + VP.
Nguyễn uang Bả