vanban.org

Bản án 61

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Kiều Ngoc A, tên gọi khác: Kiều Văn S phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a khoản 1 điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Kiều Ngoc A, tên gọi khác: Kiều Văn S mức án 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho ủy ban nhân dân xã Tam H theo dõi, giáo dục trong thời gian thứ thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Kiều ngọc Anh Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Kiều Ngoc A, tên gọi khác: Kiều Văn S phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a khoản 1 điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
H. THANH OAI - TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 61/2018/HS-ST
Ngµy: 05-9-2018
N íc céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI, TP. HÀ NỘI

- Thµnh phÇn Héi đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Minh Huyền

Ông Lê Quang Ngọc

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Anh Bích; Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Tp Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai tham gia phiên toà:

Bà Dương Thị Ngọc Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai – TP. Hà Nội; Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Kiều Ngọc A ; Tên gọi khác: Kiều Văn Song - Sinh năm: 1972; Nơi ĐKNKTT: Thôn Bùi X, xã Tam H, huyện Thanh O, TP Hà N ; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do ; Trình độ học vấn: 08/12; Họ và tên bố: Kiều Văn C; Sinh năm: 1942; Họ và tên mẹ: Lê Thị L; Sinh năm: 1947; Họ và tên vợ: Nguyễn Thị Ph; Sinh năm: 1974; Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2005; Hiện đều ở Bùi X, xã Tam H, huyện Thanh O – Hà N; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương.

Người bị hại: Ông Hoàng Đức H ; Sinh năm 1957

Trú tại: Thôn Bùi X, xã Tam H, huyện Thanh O, TP Hà N ;

Tại phiên tòa: Bị cáo, người bị hại có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa vụ án được

tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 06/12/2017, Kiều Ngọc A , sinh năm 1972, trú tại thôn Bùi X, xã Tam H, huyện Thanh Oai đi uống rượu về nhà, thì thấy thấy ông Hoàng Đức H , sinh năm 1957 (hàng xóm sát nhà Ngọc A ) đốt lửa gần khu vực để bình khí oxi của nhà Ngọc A ở ngoài ngõ đi chung giữa hai nhà nên hai bên xảy ra cãi cọ to tiếng. Sau đó, ông H khóa cổng ngõ lại và đi vào nhà, thì tiếp tục thấy tiếng cãi chửi to tiếng ở ngoài cổng, nên ông H liền quay lại phía cổng nhà mình đứng nhìn ra ngoài ngõ. Lúc này, Ngọc A cầm theo một thanh kim loại đầu sắc nhọn, trèo tường rào từ khu đất trống đằng sau nhà Ngọc A , sang khu vực bên trong cổng ngõ nhà ông H , rồi dùng thanh kim loại đâm xỉa 01 phát vào vùng gò má trái của ông H , 02 phát vào vùng ngực trái của ông H , khiến ông H ngã xuống đất. Cùng lúc đó, bà Phùng Thị Thêu, sinh năm 1950 (là hàng xóm của ông H ) đi từ đầu ngõ về phía nhà ông H chứng kiến sự việc, nên đã hô hoán mọi người cấp cứu, thì Ngọc A trèo tường ngăn giữa nhà ông H và nhà Ngọc A về nhà Ngọc A. Sau đó, ông H được mọi người đưa đi cấp cứu tại trạm y tế xã Tam H, sau chuyển bệnh viện đa khoa Hà Đông cấp cứu và điều trị từ ngày 06/12/2017 đến ngày18/12/2017 thì ra viện.

Vật chứng thu giữ do ông Hoàng Đức H tự nguyện giao nộp: 01 áo phông cộc tay màu đỏ, cổ áo màu trắng, trên thân áo phía trước có sọc kẻ trắng và in hình cờ Việt Nam. Phía sau in chữ Lâm Nguyễn và số 66 màu đen. Phía trước áo có 04 vết rách thủng áo, xung quanh các vết rách có bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu trắng, áo có nhiều kẻ sọc thân áo, phía trước bám dính nhiều chất màu nâu đỏ nghi là máu, tại khu vực túi ngực áp nên trái có 03 vết rách thủng; 03 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng; 03 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng (tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).

Đối với vật chứng là thanh kim loại đầu sắc nhọn, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm, nhưng không tìm thấy.

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích số 186/C54-TT1 ngày 18/01/2018 kết luận: “Ông Hoàng Đức H bị đa vết thương phần mềm tại gò má trái và ngực trái, đã điều trị, hiện tại để lại các thương tích sau: Sẹo vết thương phần mềm tại gò má trái, không ảnh hưởng chức năng; 03 sẹo vết thương phần mềm tại vùng ngực trái, không ảnh hưởng chức năng.

Đối chiếu Bảng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do các thương tích như sau:

- Sẹo vết thương phần mềm tại má trái không ảnh hưởng chức năng: 01% (Mục I, Phần I, Chương 9);

- 03 sẹo vết thương phần mềm tại vùng ngực trái, không ảnh hưởng chức năng 03% (Mục I, Phần I, Chương 9).

Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Hoàng Đức H tại thời điểm giám định là 04%

Các thương tích phần mềm tại gò má trái và ngực trái của ông Hoàng Đức H do vật sắc hoặc sắc nhọn gây nên”.

Tại Cơ quan điều tra, Kiều Ngọc A không thừa nhận việc trèo tường vào sân nhà ông H, mà chỉ thừa nhận: do mâu thuẫn trong việc ông H đốt lửa gần bình khí nhà Ngọc A, nên tại vị trí trước cổng ngõ nhà ông H hai bên xảy ra cãi nhau. Sau đó, ông H xông vào đẩy Ngọc A ngã ngửa, thì Ngọc A nhặt được thanh kim loại đầu sắc nhọn, nên khi thấy ông H tiếp tục lao vào Ngọc A thì Ngọc A đã dùng thanh kim loại trên đâm 02 phát vào vùng ngực trái ông H, và đẩy ông H ra để bỏ chạy. Ngoài ra, Ngọc A không gây cho ông H thương tích nào khác.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, ông Hoàng Đức H yêu cầu Kiều Ngọc A phải bồi thường dân sự cho ông H số tiền 128.216.417 đồng gồm các khoản: Di chuyển ông H từ Bùi X đi đến bệnh viện Hà Đông là 500.000 đồng ( thuê taxi) Tiền khám và nằm viện theo hóa đơn là: 2.346.417 đồng; tiền thuốc theo đơn là 3.200.000 đồng; tiền mất thu nhập của người chăm sóc ông H là 12.500.000 đồng/26 ngày * 13 ngày chăm sóc = 6.250.000 đồng.

Thu nhập thực tế bị mất: tính từ ngày năm viện là 04 tháng * 3.980.000 Đ/tháng = 15.920.000 đồng

Tiền thiệt hại về sức khỏe: = 4% * 25.000.000 = 100.000.000 đồng.

Tổng số các khoản chi phí là 128.216.417 đồng

Đến nay, bị cáo Ngọc A chưa bồi thường cho ông H khoản tiền nào.

Cáo trạng số 58/ CT-VKS ngày 17/7/2018 của Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội: “ Cố ý gây thương tích” áp dụng điểm a khoản 1 điều 134 BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo trình bày: Bị cáo trình bày sau khi gây thương tích cho ông H, sau khi gây tại nạn bị cáo hoảng sợ nên đã bỏ trốn nên chỉ có vợ của bị cáo đến hỏi thăm ông H. Cuối tháng 4/2017 bị cáo bị tai nạn giao thông và có bị trấn thương sọ não nên hiện tại không còn nhớ được sự việc đã gây ra thương tích cho ông H. Bị cáo thừa nhận những lời khai tại cơ quan điều tra là hoàn toàn đúng sự thật vì thời điểm đó bị cáo chưa bị tai nạn giao thông nên vẫn minh mẫn và sáng suốt. Tại phiên tòa bị cáo vẫn thừa nhận những vết thương tại đuôi mắt trái và các vết thương tại vùng ngực trái của ông H là do một mình bị cáo gây ra. Thời gian gần đây bị cáo và gia đình có sang hỏi thăm và xin được bồi thường nhưng gia đình ông H không chấp nhận. Nay tại phiên tòa bị cáo đã hối lỗi, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và xin được ông H tha thứ cho bị cáo có cơ hội được cải tạo tại địa phương để nuôi dạy con cái và có điều kiện để bị cáo chữa trị vết thương do tai nạn giao thông chưa hồi phục. Bị cáo xin được tự nguyện số tiền bồi thường cho ông H là 20.000.000 đồng và đã nộp tại cơ quan thi hành án trước khi mở phiên tòa.

Người bị hại trình bày: Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa ông H và bị cáo từ việc gia đình Ngọc A buộc phải thảo dỡ mái tôn lợp tại ngõ đi chung với gia đình ông H từ trước đó nên chiều ngày 16/12/2017 Ngọc A đi uống rượu say về sau đó gây sự và chửi ông H. Sau đó Ngọc A nhảy qua bở tường rào vào cầm hung khí làm bằng sắt dạng lưới lê có độ rộng khoản 3 cm dài khoảng 25- 20 cm cạnh sắc hai bên có đầu nhọn gây thương tích cho ông H cụ thể là đâm chượt vào đuôi mắt bên trái một phát khiến sượt da chảy máu, ông H lấy tay che lên vùng đuôi mắt bị đâm thì lập tức bị Ngọc A đâm thêm 02 phát vào vùng ngực trái ông H khiến máu chảy ra nhiều và ngã gục xuống đất thì Ngọc A bỏ chạy. Thời gian ông H nằm điều trị và đi viện nhưng Ngọc A không hề hỏi han hay bồi thường một khoản chi phí nào cả mà ngược lại Ngọc A không chút hối cải, thường xuyên lăng mạ ông H. Nay tại phiên tòa Ngọc A đã xin ông tha thứ nhưng ông H chưa cảm nhận được sự hối lỗi trong con người của bị cáo nên ông H vẫn đề nghị xử lý theo pháp luật nhưng có phần giảm nhẹ hơn cho bị cáo. Về phần bồi thường ông đề nghị giải quyết theo pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo nội dung cáo trạng đã nêu và đề nghị:

- Mức hình phạt đối với bị cáo Kiều Ngọc A từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Mức bồi thường: Buộc bị cáo bồi thường cho ông H tiền bồi thường theo quy định của pháp luật.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo phông cộc tay màu đỏ, cổ áo màu trắng, trên thân áo phía trước có sọc kẻ trắng và in hình cờ Việt Nam. Phía sau in chữ Lâm Nguyễn và số 66 màu đen. Phía trước áo có 04 vết rách thủng áo, xung quanh các vết rách có bám dính chất màu nâu đỏ nghi máu; 01 chiếc áo sơ mi dài tay màu trắng, áo có nhiều kẻ sọc thân áo, phía trước bám dính nhiều chất màu nâu đỏ nghi là máu, tại khu vực túi ngực áp nên trái có 03 vết rách thủng;

Hoàn trả lại cho ông H 03 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng; 03 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng (tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).

Bị cáo còn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

XÉT THẤY:

Về tội danh: Kiều Ngọc A thừa nhận có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là thanh sắt có đầu nhọn đâm ông H gây thương tích cho ông H nhiều thương tích cho ông H tại vùng ngực trái và vùng đuôi mắt trái với tổng tỷ lệ thương tích là 04%. Bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai truy tố bị cáo tội: “ Cố ý gây thương tích” áp dụng điểm a khoản 1 điều 134 BLHS là đúng pháp luật:

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền được bảo vệ sức khoẻ của công dân, gây ảnh hưởng xấu và làm mất đi tính ổn định trật tự an toàn tại địa phương nơi bị cáo gây án.

Xét hành vi của bị cáo: Do đi uống rượu về bị cáo không làm chủ được hành vi nên có cãi vã với ông H, bị cáo đã có hành vi trèo tường sang nhà bị hại mang theo hung khí nguy hiểm đâm bị hại 02 nhát vào vùng trọng yếu là vùng ngực trái gây thương tích cho người bị hại là hành vi coi thường pháp luật, đã xâm phạm và coi thường sức khỏe của người khác trái pháp luật. Tuy nhiên do người bị hại mặc trang phục và tại vị trí bị cáo đâm bị vướng trướng ngại vật(Đâm trúng 03 tờ tiền Polime gấp trong túi áo) nên tổn hại sức khỏe chỉ ở phần mềm và có tổng thương tích là 04% nhưng vị trí gây thương tích thuộc các vị trí trọng yếu trên cơ thể của bị hại. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tù nhất định đủ để răn đe giáo dục bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung chung cho xã hội. Tuy nhiên để áp dụng đúng mức hình phạt đối với bị cáo cần xem xét đến các tình tiết nhân thân của bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và gây hậu quả không lớn, tại phiên tòa bị cáo trình bày do bị tai nạn phải chi phí điều trị vết thương nên bị cáo chưa thăm hỏi bồi thường và khắc phục hậu quả kịp thời, phần vì ngại ngùng khi gây ra thường tích cho bị bị hại, phần vì hoàn cảnh có khó khăn nên chưa có chi phí bồi thường nhưng trước khi mở phiên tòa này, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền là 20.000.000 đồng thông qua việc nộp tại cơ quan thi hành án dân sự huyện Thanh Oai để mong được hưởng khoan hồng của nhà nước. Bị cáo đã xin được người bị hại tha thứ cho lỗi lầm của mình, đây là các tình tiết được giảm nhẹ được qui định tại điểm tại điểm b, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự để lên mức hình phạt phù hợp đối với từng bị cáo. Xét thấy không cần thiết phải các ly bị cáo ra khỏi xã hội, cần cho bị cáo cơ hội được cải tạo tại địa phương để tự cải sửa lỗi lầm như đề nghị của đại diện viện kiểm sát cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo trở thanh công dân sống tốt hơn cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa ông H xin được bồi thường theo quy định của pháp luật. Xét thấy việc ông H bị đánh gây thương tích nên có quyền yêu cầu được với số tiền yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khoẻ là đúng qui định của pháp luật tại điều 590 BLDS. Tuy nhiên các yêu cầu cụ thể và mức bồi thường cụ thể từng khoản phải có căn cứ hợp lệ và phải tuân theo qui định của điều 590 BLDS năm 2015 cụ thể như sau:

Về yêu cầu đòi chi phí đưa ông H đi bệnh viện cấp cứu lúc vào viện và khi xuất viện số tiền thuê tắc xi chở là 500.000 đồng không có biên lai thu nhưng vẫn được chấp nhận vì yêu cầu này phù hợp với chi phí phương tiện thực tế.

Tiền khám và nằm viện theo hóa đơn là: 2.346.417 đồng; tiền thuốc theo đơn là 3.200.000 đồng; Các khoản chi phí này đều có hóa đơn hợp lệ theo quy định pháp luật nên yêu cầu của ông H được chấp nhận.

Trong thời gian nằm viện, ông H trình bày có con trai là anh Hoàng Trọng Ph trực tiếp chăm sóc 13 ngày. Anh Ph cho công ty TNHH với số lương tháng thu nhập là 12.500.000 đồng/26 ngày công trongtháng /26. Số tiền ông H yêu cầu do mất thu nhập của người chăm sóc ông H là 12.500.000 đồng/26 ngày * 13 ngày chăm sóc = 6.250.000 đồng cần chấp nhận vì có giấy tờ xác nhận hợp lệ số ngày mất thu nhập của anh Ph do công ty anh Ph đang làm cung cấp.

Về thu nhập thực tế của ông H bị mất: Ông H có yêu cầu thanh toán tiền mất thu nhập tính từ ngày nằm viện đến ngày có yêu cầu là 04 tháng. Xét thấy ông H xuất viện trong tình trạng sức khỏe đã ổn định, tỉnh táo, trong thời gian xuất viện đến nay, ông H cũng không thực hiện việc đi khám lại hay xét nghiệm, chiếu chụp, điều tri gì nên không có căn cứ xem xét chi phí mất thu nhập do không lao động trong 04 tháng. Do vậy chỉ có căn cứ để xem xét thời gian mất thu nhập trong những ngày ông H nằm viện từ ngày 06/12/2017 đến ngày 18/12/2017 là 13 ngày. Ông H trình bày có nghề làm thợ sơn nên ngày công ông từ 200.000 đến 250.000 đồng/tháng mức thu nhập ông H yêu cầu là 3.980.000 Đ/tháng là phù hợp. Ông H được tính thanh toán mất thu nhấp là 13 ngày * ( 3.980.000 đ/30 ngày trong tháng) = 1.725.000 đồng.

Về tổn thất về tinh thần và sức khỏe: Ông H bị thương tích 4% do gẫy do bị thương tích tại 03 vị trí trên thân thể là vùng đuôi mắt trái, 02 phát tại vùng ngực trái nên thật sự có ít nhiều về tổn thất tinh thần và sức khỏe, do vậy cần phải có thời gian khoảng 01 tháng để điều trị, nghỉ ngơi và bồi bổ sức khỏe để hồi phục. Cần buộc bị cáo bồi thường cho ông H một khoản tiền theo quy định của pháp luật tương được với số tiền là 3.000.000 đồng để hồi phục sức khỏe và khoảng 5.000.000 đồng để bồi thường tổn thất về tinh thần là phù hợp với pháp luật.

Tổng các khoản bồi thường buộc bị cáo phải bồi thường cho ông H gồm: Chi phí thuê phương tiện đi cấp cứu là 500.000 đồng + Tiền phục hồi sức khỏe do bị thương mất thu nhập + tổn thất tinh thần là: 3.000.000 đ + 5.000.000 đ + Tiền mất thu nhập và công trông nom là 1.725.000 đồng + 6.250.000 đồng; Tiền thuốc men chữa trị và hóa đơn nằm viện hợp lệ là 2.346.417 + đồng 3.200.000 đồng; Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông H với tổng bồi thường là = 22.021.000 đồng, được trừ đi số tiền 20.000.000 đồng bị cáo nộ tại cơ quan thi hành án để xin bồi thường , số tiền còn lại phải bồi thường tiếp cho bị hại là 2.021.000 đồng.

Về vật chứng gồm: 01 áo phông cộc tay màu đỏ, cổ áo màu trắng, phía trước có kẻ sọc trắng in hình cờ Việt Nam có 04 vết rách thủng áo sung quanh các vết rách có dính chất bám màu nâu đỏ nghi là máu, 01 áo sơ my màu trắng có nhiều kẻ sọc ở thân áo, phía túi áo ngực có 03 vết rách xung quanh có bám chất màu nâu đỏ nghi là máu. cần tịch thu để tiêu hủy.

03 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng và 03 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng có liên quan đến vật chứng, ông H xin được nhận lại, cần hoàn trả số tiền này cho ông H là đúng pháp luật.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí bồi thường thiệt hại theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo: Kiều Ngoc A, tên gọi khác: Kiều Văn S phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a khoản 1 điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Kiều Ngoc A, tên gọi khác: Kiều Văn S mức án 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho ủy ban nhân dân xã Tam H theo dõi, giáo dục trong thời gian thứ thách.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự : Áp dụng điều 583, 584, 590 Bộ luật dân sự:

Buộc bị cáo Kiều Ngọc A phải bồi thường cho ông H gồm: Chi phí thuê phương tiện đi cấp cứu; Tiền phục hồi sức khỏe do bị thương, tổn thất tinh thần; Tiền mất thu nhập và công trông nom; Tiền thuốc men chữa trị và chi phí nằm viện với tổng bồi thường là = 22.021.000 đồng, được trừ đi số tiền 20.000.000 đồng bị cáo nộp tại cơ quan thi hành án để xin bồi thường , số tiền còn lại phải bồi thường tiếp cho bị hại là 2.021.000 đồng.

Kể từ thời điểm án có hiệu lực pháp luật, người có nghĩa vụ thanh toán chậm trả khoản tiền phải thanh toán thì phải chịu lãi xuất theo qui định tại khoản 2 điều 468 BLDS 2015, trong thời gian và trên số tiền chậm trả.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự theo qui định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu để tiêu hủy: 01 áo phông cộc tay màu đỏ có các vết rách có dính chất bám màu nâu đỏ nghi là máu, 01 áo sơ my màu trắng phía túi áo ngực có 03 vết rách xung quanh có bám chất màu nâu đỏ nghi là máu theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2018 của chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Oai.

Hoàn trả lại cho ông H 03 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng và 03 tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng tại kho vật chứng của cơ quan công an huyện Thanh Oai theo lệnh nhập kho ngày 17/8/2018.

Án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về lệ phí án phí…Tòa án.

Bị cáo Ngọc A ( tức S) phải chịu: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 101.000 đồng án phí bồi thường thiệt hại.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/9/2018. Nơi Nhận:

Cỡ chữ