vanban.org

Bản án 61/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn L phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2026. 2/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "sử dụng trái phép chất ma túy - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn L phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2026/HS-ST.
Ngày: 18-8-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – LÂM ĐỒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Mỹ Kỷ

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Nam Tiến

+ Ông Nguyễn Trung Kiên

-Thư ký phiên tòa: Ông Văn Hồng Lễ – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Bích Ngà – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến tại hai điểm cầu gồm: điểm cầu trung tâm tại phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng và điểm cầu thành phần tại Phân trại tạm giam Tuy Phong kết nối với Tòa án hai cấp tỉnh Lâm Đồng với sự hỗ trợ của những người tiến hành tố tụng gồm: Bà Trần Thị Thanh Bình, Kiểm sát viên; ông Nguyễn Văn Thảo, Thư ký Tòa án đối với vụ án hình sự thụ lý số: 54/2026/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2026, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn L; Sinh ngày 13/12/1993 tại tỉnh Bình Thuận (nay là tỉnh Lâm Đồng); Nơi thường trú và chỗ ở: thôn Minh Tân 1, xã Phan Rí Cửa, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Th (đã chết) và bà Trần H; Vợ, con: chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 14/3/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, đến ngày 09/07/2024 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt ngày 05/6/2026, hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Tuy Phong (Cơ sở 1) - Trại tạm giam số 3, Công an tỉnh Lâm Đồng. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn L là đối tượng quản lý sau cai nghiện ma túy bắt buộc tại địa phương theo Quyết định số 09/QĐ-UBND ngày 12/7/2024 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Phan Rí Cửa, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận (nay là xã Phan Rí Cửa, tỉnh Lâm Đồng) với thời hạn quản lý từ ngày 12/7/2024 đến ngày 12/7/2026.

Sáng ngày 27/3/2026, thực hiện công tác quản lý các đối tượng về ma túy Công an xã Phan Rí Cửa đến mời Nguyễn L về trụ sở Công an xã làm việc và tiến hành xét nghiệm chất ma túy định kỳ theo quy định. Xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể đối với Nguyễn L cho kết quả dương tính với Heroine nên Công an xã Phan Rí Cửa đã đưa đối tượng Nguyễn L đến Khoa tư vấn và Điều trị nghiện chất xã Phan Rí Cửa thuộc Trung tâm y tế khu vực Tuy Phong để xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, kết quả: Nguyễn L dương tính với chất ma túy loại Heroine.

Hội đồng thu mẫu vật tiến hành thu mẫu nước tiểu của Nguyễn L lúc 10 giờ 30 phút ngày 27/3/2026 tại Khoa tư vấn và Điều trị nghiện chất xã Phan Rí Cửa thuộc Trung tâm y tế khu vực Tuy Phong. Nguyễn L tự tiểu vào 01 (Một) hũ nhựa trong suốt, nắp đậy màu đỏ, kích thước cao 08cm, đường kính 4,5cm, sau đó được niêm phong gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 984/KL-KTHS, ngày 03/4/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng, kết luận: Tìm thấy chất Morphine và 6-Monoacetylmorphine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine (Heroin) trong mẫu nước tiểu được niêm phong gửi giám định.

Quá trình điều tra Nguyễn L khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 20 giờ ngày 25/3/2026, Nguyễn L mua 01 tép ma túy loại Heroine của một người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) tại Câu lạc bộ cũ ở khu vực chợ xã Phan Rí Cửa thuộc thôn Giang Hải 3, xã Phan Rí Cửa, tỉnh Lâm Đồng nay là thôn Giang Hải, xã Phan Rí Cửa, tỉnh Lâm Đồng với số tiền là 100.000 đồng. Sau khi mua ma túy Nguyễn L đi bộ về nhà ở thôn Minh Tân 2, xã Phan Rí Cửa, tỉnh Lâm Đồng nay là thôn Minh Tân 1, xã Phan Rí Cửa, tỉnh Lâm Đồng và vào nhà vệ sinh để sử dụng ma túy. Khi sử dụng xong Nguyễn L nằm nghỉ ngơi tại nhà. Đến sáng ngày 27/3/2026 thì bị Công an xã Phan Rí Cửa kiểm tra phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại Bản Cáo trạng số: 40/CT-VKSLDG - KV, ngày 22 tháng 7 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng đã truy tố Nguyễn L về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 256a; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), xử phạt bị cáo Nguyễn L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2026.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nguyễn L không tranh luận và thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn L không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn L đã khai nhận toàn bộ nội dung vụ án. Lời khai của Nguyễn L phù hợp với biên bản ghi nhận vụ việc, phù hợp với biên bản thu giữ các tang vật chứng và kết quả giám định chất ma túy đủ cơ sở xác định: Nguyễn L là đối tượng đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy nhưng do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên khoảng 20 giờ ngày 25/3/2026, Nguyễn L đã mua 01 tép ma túy loại Heroine của một người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) tại Câu lạc bộ cũ ở khu vực chợ xã Phan Rí Cửa thuộc thôn Giang Hải 3, xã Phan Rí Cửa, tỉnh Lâm Đồng nay là thôn Giang Hải, xã Phan Rí Cửa, tỉnh Lâm Đồng với số tiền là 100.000 đồng sau đó đem về nhà để sử dụng một mình hết.

Khi thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Nguyễn L có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo nhận thức được hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố 40/CT-VKSLDG-KV, ngày 22 tháng 7 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng và lời buộc tôi của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân gây ra tệ nạn xã hội và làm lây truyền các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho tính mạng và sức khỏe cộng đồng, gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Trên cơ sở các tình tiết của vụ án và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, đồng thời qua đó nhằm phòng ngừa chung tội phạm.

Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Lâm Đồng tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận toàn bộ.

Đối với người thanh niên tại Câu lạc bộ cũ ở khu vực chợ xã Phan Rí Cửa thuộc thôn Giang Hải 3, xã Phan Rí Cửa, tỉnh Lâm Đồng nay là thôn Giang Hải, xã Phan Rí Cửa, tỉnh Lâm Đồng đã bán ma túy cho Nguyễn L vào ngày 25/3/2026, do không xác định được nhân thân cụ thể nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).

1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn L phạm tội: “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2026.

2/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Bị cáo Nguyễn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;

3/ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/8/2026).

Cỡ chữ