vanban.org

Bản án 61/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị Thúy H được ly hôn với anh Danh Đ.

Về quan hệ con chung: Chị Mai Thị Thúy H và anh Danh Đ thống nhất chưa có con chung, nên Hội đồng xét xử không giải quyết. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Mai Thị Thúy H và anh Danh Đ thống nhất là anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xé… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai Thị Thuý H ly hôn Danh Đ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị Thúy H được ly hôn với anh Danh Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 03/4/2026
Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;

Ông Nguyễn Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - An Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.

Ngày 03 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 109/2026/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2026 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mai Thị Thúy H, sinh năm: 1980. Địa chỉ: Ấp V, xã S, tỉnh An Giang - (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Danh Đ, sinh năm: 1975. Địa chỉ: Ấp V, xã S, tỉnh An Giang - (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Mai Thị Thúy H trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2019, chị và anh Danh Đ tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 137 ngày 22/10/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại ấp V, xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Nay là ấp V, xã S, tỉnh An Giang).

Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến thời gian sau giữa chị và anh Đ phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn hợp nhau nữa, không có tiếng nói chung, nên đã ly thân với nhau khoảng hai năm nay. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh Đ chưa có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị H xác nhận quá trình chung sống chị và anh Đ không có tài sản chung, nợ chung, nên không yêu cầ u Tò a á n xem xét, giả i quyế t.

Bị đơn anh Danh Đ trình bày tại bản tự khai ngày 03/3/2026 như sau:

Anh thống nhất với trình bày của chị H về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị là đúng. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, anh có ý kiến như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị Mai Thị Thúy H.

- Về quan hệ con chung: Anh và chị H chưa có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh và chị H không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nghiên cứ u cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n đã đượ c thẩm tra tạ i phiên tòa, căn cứ kế t quả tranh luận tạ i phiên toà , Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n đị nh như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị Mai Thị Thúy H yêu cầu được ly hôn với anh Danh Đ. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Danh Đ có nơi cư trú hiện nay tại ấp V, xã S, tỉnh An Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 - An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Mai Thị Thúy H và bị đơn anh Danh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Danh Đ tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã S, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 137 ngày 22/10/2019. Như vậy, hôn nhân giữa chị H với anh Đ là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của chị H về việc xin ly hôn với anh Đ thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị H với anh Đ có phát sinh mâu thuẫn, mà theo trình bày của chị H là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, vợ chồng không có tiếng nói chung, nên chị và anh Đ đã ly thân khoảng hai năm nay. Chị H xác định trong thời gian chị và anh Đ sống ly thân với nhau, thì giữa chị và anh Đ không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên chị H bỏ qua mọi chuyện, cho anh Đ thêm cơ hội để hai bên đoàn tụ gia đình, nhưng chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Đ. Đồng thời, anh Đ cũng có ý kiến đồng ý ly hôn với chị H.

Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa chị H với anh Đ đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị H yêu cầu được ly hôn với anh Đ là có cơ sở.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh Đ.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống giữa chị H và anh Đ thống nhất chưa có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh Đ trình bày thống nhất là giữa anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì cá c le trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điề u 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị Thúy H được ly hôn với anh Danh Đ.

2. Về quan hệ con chung: Chị Mai Thị Thúy H và anh Danh Đ thống nhất chưa có con chung, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Mai Thị Thúy H và anh Danh Đ thống nhất là anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

4. Về á n phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Mai Thị Thúy H phả i nộp á n phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị H đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 301750 ngày 26 tháng 02 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Chị H không phải nộp thêm.

5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ