- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "ĐIỂU T - ĐIỂU L - TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Điểu T. Buộc bị đơn ông Điểu L phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Điểu T tổng số tiền 332.
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 61/2026/DS–ST Ngày: 16 – 6 – 2026 “V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đức Hòa
2. Bà Lê Thị Thận
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên Ngày 16 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 308/2025/TLST-DS ngày 01 tháng 12 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số ngày 24 tháng 4 năm 2026 giữa:
- Nguyên đơn: ông Điểu T, sinh năm 1968
Địa chỉ: Thôn Đ, xã P, thành phố Đ
- Bị đơn: ông Điểu L, sinh năm 1971
Địa chỉ: Thôn B, xã B, thành phố Đ
(Nguyên đơn có văn bản đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 27 tháng 11 năm 2025, nguyên đơn ông Điểu T trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 05/10/2019 dương lịch, ông có cho ông Điểu L vay số tiền là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Giữa hai bên có lập 01 "giấy vay tiền" viết tay. Ông trực tiếp đưa tiền cho ông Điểu L tại nhà ông, hai bên có thỏa thuận lãi suất bằng miệng. Sau đó, ngày 08/10/2019, ông Điểu L tiếp tục vay của ông số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng nữa. Tổng cộng, ông Điểu L đã vay của ông tổng số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng, thời hạn vay là 10 (mười) ngày. Tức là ông Điểu L hẹn đến ngày 18/10/2019 sẽ trả hết số tiền vay cho ông.
Tuy nhiên, từ đó đến nay, đã hết thời hạn trả nợ từ lâu nhưng ông Điểu L chưa trả cho ông được số tiền nào cả. Khi ông liên hệ để giải quyết sự việc thì ông Điểu L trốn tránh, không hợp tác. Ông Điểu L cố tình không trả tiền cho ông. Ông đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Nai giải quyết buộc ông Điểu L có nghĩa vụ trả cho ông số tiền gốc là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng và lãi suất của số tiền gốc trên theo mức lãi suất 0,83%/tháng từ ngày 19/10/2019 đến khi kết thúc vụ án. Vì điều kiện ở xa, ông xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
-Bị đơn ông Điểu L vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai tại phiên tòa: Về tố tụng: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Điểu L phải có nghĩa vụ trả cho ông Điểu T số tiền gốc 200.000.000 đồng và tiền lãi 0,83%/tháng kể từ ngày vay. Về án phí: Đương sự nộp án phí theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về Thẩm quyền: Nguyên đơn ông Điểu T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Điểu L có nơi cư trú tại thôn B, xã B, thành phố Đ phải trả số tiền vay 200.000.000 đồng và tiền lãi. Căn cứ vào các 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai.
Nguyên đơn có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt; Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Điểu T yêu cầu bị đơn ông Điểu L phải trả số tiền vay gốc 200.000.000 đồng:
Căn cứ giấy vay tiền có nội dung “tên tôi là Điểu L … từ ngày 05/10/2019 có vay số tiền ông Điểu T … 100.000.000 đồng … đến ba ngày sau ngày 08/10/2019 ông Điểu L có lấy thêm tiền nữa là 100.000.000 đồng, vậy cả hai lần cộng lại là 200.000.000 đồng.” Người vay Điểu L ký tên trong giấy vay tiền. Ông Điểu T có đòi nhiều lần nhưng ông Điểu L không trả. Việc ông Điểu L không trả tiền cho ông Điểu T đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên vay. Do đó ông Điểu T khởi kiện yêu cầu ông Điểu L phải có nghĩa vụ trả ông Điểu T số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng là có căn cứ cần chấp nhận.
Xét yêu cầu tính tiền lãi của nguyên đơn:
Căn cứ giấy vay tiền nêu trên, khi vay hai bên không thỏa thuận lãi suất. Nguyên đơn ông Điểu T yêu cầu tính tiền lãi theo quy định pháp luật từ ngày vay 19/10/20219 đến nay.
Căn cứ khoản 4 Điều 466 của Bộ luật sự quy định: “Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.
Điều 468 của Bộ luật sự quy định:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
Tiền lãi được tính như sau: 200.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 06 năm 08 tháng = 132.800.000 đồng.
Từ những phân tích nêu trên, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Điểu T. Buộc bị đơn ông Điểu L có nghĩa vụ trả ông Điểu T số tiền gốc và lãi là 332.800.000 đồng.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Nai là đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về án phí: Đương sự nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463; Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Điểu T. Buộc bị đơn ông Điểu L phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn ông Điểu T tổng số tiền 332.800.000 (ba trăm, ba mươi hai triệu, tám trăm nghìn) đồng.
2. Về án phí: Buộc bị đơn ông Điểu L phải nộp 16.640.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Thi hành án dân sự thành phố Đ trả lại cho nguyên đơn ông Điểu T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.000.000 đồng (Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0009933, ngày 01/12/2025)
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại 30 Luật hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Đồng Nai;; - VKSND kv 12– Đồng Nai; - THADS thành phố Đồng Nai; - Đương sự; - Lưu HS. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hà |