vanban.org

Bản án 61/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đào Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Đào Đình T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 29/10/2025). Giao bị cáo Đào Đình T cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Đình T - Trộm cắp tài sản. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HS-ST
Ngày 29-10-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Thắm và bà Nguyễn Thị Điệp

- Thư ký phiên toà: Bà Lữ Thu Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 6, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Phạm Sỹ Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2025, đối với:

- Bị cáo: Đào Đình T, sinh ngày 08/5/1993 tại Ninh Bình; nơi cư trú: thôn 3 Ng, xã B, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; không xác định được bố, con bà Đào Thị Ng; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 26/7/2025, đến ngày 04/8/2025 áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay; có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Trần Đức Đ, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ dân phố V, xã V, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

2. Chị Trương Thị M, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ dân phố V, xã V, tỉnh Ninh Bình vắng mặt

- Người làm chứng: Chị Lưu Thị L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 26/7/2025, Đào Đình T điều khiển xe mô tô BKS 90B2 - 101.87 đến cửa hàng mua bán sửa chữa điện thoại Ph 3 có địa chỉ số 148, đường Tr, tổ dân phố Ng, xã V, tỉnh Ninh Bình (nay là thôn Ng, xã V, tỉnh Ninh Bình) do anh Trần Đức Đ là chủ cửa hàng để sửa chữa chiếc điện thoại di động của mình, trong lúc ngồi chờ thấy anh Đ đang mải sửa điện thoại không để ý nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, lợi dụng sơ hở lúc anh Đ không để ý, T ra khu vực tủ trưng bầy tại cửa hàng lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro vỏ màu xanh xám ở trong tủ đút vào túi quần dài phía trước bên phải đang mặc sau đó ngồi xuống ghế, khoảng hai phút sau nhân lúc anh Đ không để ý, T ra tủ trưng bầy trộm cắp tiếp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus ở trong tủ đút vào túi quần dài bên phải đang mặc rồi T ra lấy chiếc điện thoại Samsung của mình sửa chữa xong lên xe đi về nhà và cất chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro ở trong tủ phòng khách, còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus T để sử dụng. Sau khi phát hiện bị kẻ gian trộm cắp hai chiếc điện thoại di động ở tủ trưng bầy anh Đ đã trình báo Công an xã V. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày (26/7/2025), Đào Đình T đã đến Công an xã V, tỉnh Ninh Bình đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, T đã tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus, Công an xã V thu giữ niêm phong ký hiệu ĐT1 và 01 chiếc xe mô tô Honda AIR Blade màu đỏ đen, BKS 90B2 - 101.87.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Đình T ở thôn 3 Ng, xã B, tỉnh Ninh Bình Cơ quan điều tra thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro ở trong tủ phòng khách được niêm phong ký hiệu ĐT2, lực lượng Công an đã thu giữ 01 thẻ nhớ bên trong chứa hai đoạn video quay tại cửa hàng điện thoại thời điểm xảy ra sự việc do anh Trần Đức Đ cung cấp, được niêm phong trong phong bì thư dán kín ký hiệu A1.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 37/KL-HĐĐGTS ngày 31/7/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận: “Trị giá 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro tại thời điểm định giá ngày 26/7/2025 là: 8.333.333 đồng; Trị giá 01 máy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus tại thời điểm định giá ngày 26/7/2025 là: 10.833.333 đồng”.

Cáo trạng số 48/CT-VKS-KV6 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, tỉnh Ninh Bình truy tố Đào Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, tỉnh Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Đình T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: bị hại anh Trần Đức Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên không đặt ra xem xét. Về xử lý vật chứng, áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô gắn BKS 90B2 - 101.87; tiếp tục quản lý, lưu trữ theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ được niêm phong trong phong bì.

Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, bị hại anh Trần Đức Đ có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và xin giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự, anh đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

Tại phiên tòa, bị cáo Đào Đình T thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, lời nói sau cùng của bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định đó.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Đào Đình T đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Có đủ cơ sở để kết luận: Sáng ngày 26/7/2025, Đào Đình T đến quán mua bán, sửa chữa điện thoại di động Ph 3 ở thôn Ng, xã V, tỉnh Ninh Bình của anh Trần Đức Đ để sửa điện thoại. Trong lúc ngồi chờ sửa điện thoại, lợi dụng sơ hở của của chủ sở hữu, T đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus, có tổng trị giá là 19.166.666 đồng của anh Trần Đức Đ.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Do vậy, hành vi của Đào Đình T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, tỉnh Ninh Bình truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:

Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Mặc dù bị cáo trộm cắp 02 chiếc điện thoại di động, mỗi chiếc đều có trị giá từ trên 02 triệu đồng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện cùng một thời điểm, cùng đối tượng và cùng bị hại, bị cáo và tài sản chiếm đoạt là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro chưa được chuyển dịch, rời khỏi nhà bị hại. Vì vậy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo ra đầu thú; tài sản bị cáo chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại; bị hại anh Trần Đức Đ xin giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo; quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, bị cáo xuất trình Đơn xin giảm nhẹ hình phạt thể hiện: gia đình bị cáo có hai mẹ con, mẹ bị cáo là bà Đào Thị Ng là mẹ đơn thân, hiện bà Ng là người cao tuổi, bị ốm đau và không tự chăm sóc cho bản thân được, bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình, điều kiện kinh tế rất khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét đánh giá khách quan, toàn diện vụ án cũng như xem xét thấy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là đối tượng có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào và có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung.

- Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Trần Đức Đ và chị Trương Thị M đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng và đồ vật đã thu giữ:

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Plus tài liệu điều tra xác định là tài sản hợp pháp của vợ chồng anh Trần Đức Đ và chị Trương Thị M, ngày 05/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho đại diện chủ sử hữu là anh Trần Đức Đ là có căn cứ.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, gắn BKS 90B2 - 101.87, bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với thẻ nhớ chứa dữ liệu hình ảnh liên quan đến vụ án là vật lưu trữ dữ liệu điện tử, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của Đào Đình T nên tiếp tục quản lý, lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Tuyên bố bị cáo Đào Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đào Đình T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 29/10/2025). Giao bị cáo Đào Đình T cho Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách của án treo, bị cáo Đào Đình T phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự. Nếu bị cáo T vắng mặt tại nơi cư trú hoặc thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô đã cũ nhãn hiệu Honda, số loại Air Blade, gắn BKS 90B2 - 101.87 (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Ninh Bình ngày 03/10/2025).

Tiếp tục quản lý, lưu trữ theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ được niêm phong trong phong bì.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đào Đình T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ