- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Trường P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 174 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 61/2025/HS-ST Ngày: 26 - 11 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh S
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Trung H
Ông Cao Minh S
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vũ L, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10-Vĩnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10- Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng P- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xét xử rút kinh nghiệm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 và Thông báo về việc dời ngày xét xử số: 90/TB-TA, ngày 20 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Hồ Trường P, Sinh ngày 22 tháng 12 năm 2000, tại tỉnh V. Nơi cư trú: Số 95, khóm Z, phường X, thành phố T, tỉnh T (nay là số 93, khóm Z, phường T, tỉnh V); nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hồ Văn S, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; Vợ: không; Con: không; tiền án: Không; tiền sự: Không; về nhân thân: Vào ngày 20/02/2025, bị Công an phường 1, thành phố Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/7/2025 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại trại tạm giam số 3 Công an tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
1. Bị hại:
1/ Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động (Ông Lê Thụy Sơn C - Giám đốc)
Ủy quyền ông Nguyễn Hữu T, Sinh năm 1995 (có mặt).
Nơi cư trú: ấp C, xã T, tỉnh V.
2/ Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ kỹ thuật Diệu Phúc (Cellphone S) (Ông Nguyễn Anh V - Tổng Giám đốc).
Ủy quyền bà Thạch Vũ Phương T1, Sinh năm 1994 (vắng mặt) (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp Đ, xã H, tỉnh V
3/ Công ty cổ phần bán lẻ kỹ thuật số FPT (Ông Hoàng Trung K - Giám đốc; bà Nguyễn Đỗ Q - Phó Tổng Giám đốc)
Ủy quyền ông Lâm Quang M, Sinh năm 2000 (vắng mặt) (có đơn xin xét xử vắng mắt).
Nơi cư trú: khóm Q, phường T, tỉnh Vĩnh L
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Nguyễn Tiến Đ, Sinh năm 2003 (vắng mặt) (có đơn xin xét xử vắng mắt).
Nơi cư trú: ấp L, xã Lưu N, tỉnh V
2/ Nguyễn Văn L, Sinh năm 1983 (vắng mặt) (có đơn xin xét xử vắng mắt)
Nơi cư trú: số 257 khóm W, phường T, tỉnh V
3/ Trần Quốc T, Sinh năm 1983 (vắng mặt) (có đơn xin xét xử vắng mắt).
Nơi cư trú: ấp H, xã H, tỉnh V
4/ Hồ Văn S, Sinh năm 1955 (vắng mặt) (có đơn xin xét xử vắng mắt).
Nơi cư trú: số 95 khóm E, phường T, tỉnh V
3. Người làm chứng
Võ Thị Thuỳ T2, Sinh năm 2001 (vắng mặt).
Nơi cư trú: số 327A, khóm R, phường T, tỉnh V
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Hồ Trường P không có nghề nghiệp ổn định, lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cụ thể bị cáo đã ba lần thực hiện hành vi pham tội cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào ngày 25/01/2025, bị cáo dùng điện thoại di động truy cập vào trang bán hàng của Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động và sử dụng tên là “Chị Ái” để đặt mua một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3, RAM 8GB, dung lượng 128GB, màu đen thạch anh với giá 4.900.000 đồng, địa chỉ giao điện thoại tại đường Quang Trung, khóm 3, phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi bị cáo đặt mua điện thoại thành công thì ông Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 10/12/2000, nơi thường trú: ấp L, xã L, tỉnh V là nhân viên bán hàng của Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động Chi nhánh Trà Vinh, địa chỉ tại số 121D-123, khóm 2, phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long liên lạc với bị cáo để xác nhận thời gian và địa điểm giao điện thoại, bị cáo thỏa thuận với ông Đ giao điện thoại lúc 14 giờ cùng ngày tại hẻm số 10, đường Tô Thị Huỳnh, khóm 3, phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long. Đến thời gian nêu trên, bị cáo đi bộ từ nhà của bị cáo đến nhà của ông Thạch S, sinh ngày 01/01/1965, nơi thường trú: Số 10/7, khóm Q, phường T, tỉnh V và đứng tại cửa hông nhà của ông S chờ (do nhà của ông S tại vị trí ngã ba hẻm số 10 có hai cửa ra vào gồm một cửa hông giáp với đường hẻm số 10 và một cửa chính thông ra đường đanl). Khi ông Đ đem điện thoại nhãn hiệu OPPO A3 mà bị cáo đã đặt đi đến đầu hẻm số 10 thì bị cáo kêu ông Đ chạy vào nơi bị cáo đứng đợi. Sau khi nhận điện thoại xong, bị cáo nói dối với ông Đ đứng chờ để bị cáo đi vào trong nhà lấy tiền thanh toán, mục đích làm ông Đ tin tưởng thì ông Đ đồng ý. Sau khi được ông Đ tin tưởng và giao điện thoại thì bị cáo đi vào trong nhà ông S rồi nhanh chóng đi ra cửa chính tẩu thoát, sau đó bị cáo đem điện thoại vừa chiếm đoạt được bán cho cửa hàng điện thoại di động Lê L tại đường Phạm Ngũ Lão thuộc khóm Z, phường T do ông Nguyễn Văn L, sinh ngày 10/6/1983 làm chủ với giá 2.000.000 đồng. Sau khi có tiền, bị cáo tiêu xài cá nhân hết.
Tại kết luận định giá tài sản số 280/KL-HĐĐGTS ngày 18/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Vĩnh Long, kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3, RAM 8GB, dung lượng 128GB, màu đen thạch anh, chưa qua sử dụng (mới 100%) có giá là 4.900.000 đồng. (Bút lục: 89 – 101)
Lần thứ hai: Vào ngày 03/02/2025, bị cáo Hồ Trường P tiếp tục dùng điện thoại di động truy cập vào trang bán hàng của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ kỹ thuật Diệu Phúc (Cellphone S) để đặt mua một điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI REDMI NOTE 14, RAM 6GB, dung lượng 128GB, màu xanh lá, địa chỉ giao hàng tại hẻm số 10, đường Tô Thị Huỳnh thuộc khóm 3, phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi xác nhận đặt hàng thành công, bà Thạch Vũ Phương T1, sinh ngày 14/4/1994, nơi thường trú: Ấp Đ, phường H, tỉnh V cùng bà Võ Thị Thùy T2, sinh ngày 30/10/2001, nơi thường trú: khóm C, thị t, huyện C, tỉnh T (hiện nay là xã C, tỉnh V) là nhân viên của cửa hàng Cellphone S chi nhánh Trà Vinh, địa chỉ tại số 24, đường Điện Biên Phủ, khóm 16, phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long đem điện thoại nêu trên giao cho bị cáo. Bị cáo tiếp tục lợi dung nhà của ông Thạch S làm địa điểm giao nhận điện thoại nên bị cáo đi đến nhà của ông S và đứng tại cửa hông nhà và yêu cầu bà T vào để đưa điện thoại cho bị cáo xem. Sau khi nhận điện thoại, bị cáo nói dối với bà T2 và bà T1 đứng chờ để bị cáo đi vào trong nhà lấy tiền thanh toán, mục đích làm cho bà T2 và bà T1 tin tưởng. Sau đó, bị cáo cầm chiếc điện thoại động nhãn hiệu XIAOMI REDMI NOTE 14, RAM 6GB, dung lượng 128GB đi vào trong nhà ông Sóc, đi ra cửa chính trốn thoát, sau đó đem bán cho cửa hàng điện thoại di động Quốc Triều tại số 276, khóm 1, phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long do ông Trần Quốc T, sinh ngày 10/10/1983, nơi thường trú: Ấp H, xã H, tỉnh V làm chủ với giá 2.500.000 đồng. Có tiền bị cáo tiêu xài cá nhân hết.
Tại kết luận định giá tài sản số 280/KL-HĐĐGTS ngày 18/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Vĩnh Long, kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI REDMI NOTE 14, RAM 6GB, dung lượng 128GB, màu xanh lá, chưa qua sử dụng (mới 100%) có giá là 4.900.000 đồng. (Bút lục: 89 – 101)
Lần thứ ba: Vào ngày 13/02/2025, bị cáo Hồ Trường P sử dụng điện thoại truy cập vào trang bán hàng của Công ty cổ phần bán lẻ kỹ thuật số FPT để đặt mua 02 (hai) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A16, màu đen, RAM 4GB, dung lượng 128GB, địa điểm giao hàng tại hẻm số 10, đường Tô Thị Huỳnh thuộc khóm 3, phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi đặt hàng thành công, ông Lâm Quang M, sinh ngày 03/4/2000, nơi thường trú: Số 135, khóm Q, phường T, tỉnh V là nhân viên của Công ty cổ phần bán lẻ kỹ thuật số FPT Chi nhánh Trà Vinh đi đến đầu hẻm số 10 và liên lạc với bị cáo để giao 02 (hai) chiếc điện thoại di động thì bị cáo tiếp tục lợi dụng nhà của ông Thạch S để làm nơi nhận điện thoại. Bị cáo yêu cầu ông M vào hẻm và đưa hai chiếc điện thoại cho bị cáo xem, sau khi xem điện thoại xong bị cáo hỏi ông M có đem máy thanh toán qua thẻ tín dụng theo không, ông M nói không có thì bị cáo kêu ông M đứng chờ để bị cáo đi vào trong nhà lấy tiền thanh toán, mục đích làm ông M tin tưởng. Sau đó, bị cáo cầm hai chiếc điện thoại đã chiếm đoạt được đi vào trong nhà ông S rồi đi ra cửa chính trốn thoát. Sau đó bị cáo đem bán cho ông T một điện thoại với giá 2.500.000 đồng, điện thoại còn lại, bị cáo đem về nhà cất giấu. Có được tiền bị cáo tiêu xài cá nhân hết.
Tại kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTS ngày 25/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (hiện nay là tỉnh Vĩnh Long), kết luận: 02 (hai) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A16, màu đen, RAM 4GB, dung lượng 128GB có giá (5.090.000 đồng/máy x 02 máy = 10.180.000 đồng). (Bút lục: 93 – 97)
Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt trong ba lần phạm tội trên là 19.980.000 đồng.
Về tình tiết giảm nhẹ:
+ Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo tác động gia đình để bồi thường thiệt hại cho bà Thạch Vũ Phương T1 số tiền 5.000.000 đồng.
+ Bị cáo có cha ruột là ông Hồ Văn S tham gia cách mạng, được tặng thưởng danh hiệu chiến sĩ quyết thắng và huân chương chiến sĩ vẻ vang các hạng nhất, nhì, ba.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hồ Trường P thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên.
Đối với ông Trần Quốc T và ông Nguyễn Văn L đã mua điện thoại của bị cáo, không biết các điện thoại trên là do bị cáo phạm tội mà có nên không xử lý.
Đối với việc bị cáo sử dụng nhà của ông Thạch S để làm địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, qua điều tra xác định ông S và người nhà ông S không hề hay biết nên không xử lý.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ các đồ vật như sau:
+ 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A16, RAM 4GB, bộ nhớ 128GB, loại hai sim, màu đen, IMEI 351477979532376, điện thoại chưa qua sử dụng.
+ 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A16, RAM 4GB, bộ nhớ 128GB, loại hai sim, màu đen, IMEI 351477979534547, điện thoại chưa qua sử dụng.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3, màu đen thạch anh, số IMEI 1: 868937973899696, số IMEI 2: 868937973899688, điện thoại chưa qua sử dụng.
Xử lý vật chứng:
+ Ngày 28/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Trà Vinh trả lại 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A16, RAM 4GB, bộ nhớ 128GB, loại hai sim, màu đen, IMEI 351477979532376, điện thoại chưa qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A16, RAM 4GB, bộ nhớ 128GB, loại hai sim, màu đen, IMEI 351477979534547, điện thoại chưa qua sử dụng cho ông Lâm Quang M là người được Công ty cổ phần bán lẻ kỹ thuật số FPT uỷ quyền.
+ Ngày 22/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3, màu đen thạch anh, số IMEI 1: 868937973899696, số IMEI 2: 868937973899688, điện thoại chưa qua sử dụng cho ông Nguyễn Hữu T là người được Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động uỷ quyền.
+ Đối với điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI REDMI NOTE 14, RAM 6GB, dung lượng 128GB, màu xanh lá ông Trần Quốc T đã bán lại cho người khác không rõ họ tên và địa chỉ nên không thu hồi được.
+ Đối với điện thoại di động của bị cáo dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bán cho người khác không rõ họ tên và địa chỉ nên không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự:
+ Đối với ông Trần Quốc T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.500.000 đồng là số tiền mà ông T đã mua lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A16, màu đen, RAM 4GB, dung lượng 128GB vào ngày 13/02/2025, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường.
+ Đối với ông Nguyễn Văn L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng là số tiền mà ông L đã mua lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3, RAM 8GB, dung lượng 128GB, màu đen thạch anh vào ngày 25/01/2025, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường.
+ Đối với ông Lâm Quang M đại diện Công ty cổ phần bán lẻ kỹ thuật số FPT đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu.
+ Đối với ông Nguyễn Hữu T đại diện Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu.
+ Đối với bà Thạch Vũ Phương T1 đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ kỹ thuật Diệu Phúc (Cellphone S) đã được gia đình bị cáo bồi thường giá trị điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI REDMI NOTE 14, RAM 6GB, dung lượng 128GB nên không yêu cầu.
Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKS-HS ngày 23/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố Hồ Trường P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10- Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Hồ Trường P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như Bản cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án và nhân thân của bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Trường P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Buộc bị cáo bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L 2.000.000 đồng; ông Trần Quốc T 2.500.000 đồng và nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân khu vục 10, tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Hồ Trường P đã khai nhận: Vào ngày 25/01/2025 đến ngày 13/02/2025, tại hẻm số 10, khóm 3, phường Trà Vinh, tỉnh Vĩnh Long bị cáo Hồ Trường P đã ba lần dùng thủ đoạn gian dối bằng hình thức đặt mua điện thoại di động từ các của hàng. Sau khi nhận được điện thoại, bị cáo lấy lý do vào nhà lấy tiền thanh toán rồi nhanh chống trốn thoát để chiếm đoạt của Công ty Cổ phần Thế Giới Di Động Trà Vinh một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3, RAM 8GB, dung lượng 128GB, màu đen thạch anh, trị giá 4.900.000 đồng; Chiến đoạt của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và dịch vụ kỹ thuật Diệu Phúc (Cellphone S) một điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI REDMI NOTE 14, RAM 6GB, dung lượng 128GB, màu xanh lá, trị giá 4.900.000 đồng và của Công ty cổ phần bán lẻ kỹ thuật số FPT Trà Vinh hai điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A16, màu đen, RAM 4GB, dung lượng 128GB, trị giá 10.180.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt trong ba lần phạm tội trên là 19.980.000 đồng.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hồ Trường P đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10- Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét thấy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, tỉnh Vĩnh Long truy tố bị cáo Hồ Trường P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật, không oan, không sai.
Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, để có tiền tiêu xài bị cáo đã nảy sinh ý định gian dối bằng thủ đoạn dùng điện thoại di động truy cập vào trang bán hàng của các Công ty để đặt mua điện thoại di động rồi chiếm đoạt 04 điện thoại di động trị giá 19.980.000 đồng của 03 Công ty. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà còn xâm phạm nghiêm trọng đến pháp luật hình sự. Bị cáo phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên; khi phạm tội bị cáo chưa tiền án, tiền sự; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả cho bị hại; gia đình bị cáo có công với cách mạng. Nghĩ nên xem đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo đề nghị của Viện kiểm sát là có cơ sở.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại anh Nguyễn Hữu T, chị Thạch Vũ Phương T1, anh Lâm Quang M đã nhận lại được tài sản nên không có yêu cầu. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L yêu cầu bị cáo bồi thường 2.000.000 đồng; ông Trần Quốc T yêu cầu bị cáo bồi thường 2.500.000 đồng; bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu trên. Hội đồng xét xử ghi nhận. Riêng anh Nguyễn Tiến Đ, ông Hồ Văn S không có yêu cầu. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Người làm chứng: Chị Võ Thị Thùy T2 có lời khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Hồ Trường P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Trường P 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2025.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Hữu T (đại diện Công ty Cổ phần Thế giới Di động), chị Thạch Vũ Phương T1 (đại diện Công ty TNHH Thương Mại Dịch Vụ Kỹ Thuật Diệu Phúc), anh Lâm Quang M (đại diện Công ty Cổ phần bán lẻ Kỹ thuật số FPT) không có yêu cầu. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Căn cứ: Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 586, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Hồ Trường P bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L 2.000.000 đồng, ông Trần Quốc T 2.500.000 đồng. Riêng anh Nguyễn Tiến Đ và ông Hồ Văn S không có yêu cầu. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền còn phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Hồ Trường P nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án sơ thẩm xử công khai; báo cho bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long - VKSND khu vực 10; - Phòng THADS khu vực 10; - TTG số 3 CA tỉnh Vĩnh Long; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thanh S |