vanban.org

Bản án 61/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 17/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Bùi Mạnh L 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày T án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Mạnh L Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Bùi Mạnh L 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VIỆT YÊN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 61/2025/HS-ST
Ngày: 17-4-2025

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Văn Bảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương ThA Văn

Ông Nguyễn Quang Kim

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Thư ký Toà án nhân dân

thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tham

gia phiên toà: Ông Nguyễn Việt A - Kiểm sát viên.

Ngày 17/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc

Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2025/HS-ST ngày

14/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HS ngày

04/4/2025 đối với:

- Bị cáo: Bùi Mạnh L, sinh năm 1999; Tên gọi khác: không; nơi cư trú:

Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn

hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

con ông Bùi Đình T và bà Nguyễn Thị Khánh; vợ con: Chưa có; nhân thân, tiền

án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 21/01/2025 đến ngày

24/01/2025, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện tại

ngoại (có mặt).

- Bị hại: A Nguyễn Văn T, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện

N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

- Người có quyền lợi liên quan đến vụ án:

1.A Trần Hải A, sinh 2002; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc

Giang (vắng mặt)

2. A Nguyễn Văn V, sinh 1984; nơi cư trú: Thôn Y, xã S, thành phố B, tỉnh

Bắc Giang (vắng mặt).

3. Ông Bùi Đình T, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh

Bắc Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau: Bùi Mạnh L làm việc tại bếp ăn của Công ty trách nhiệm hữu hạn Công nghệ Lens Việt Nam (viết tắt là Công ty Công nghệ Lens Việt Nam), địa chỉ ở Khu công nghiệp Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang từ tháng 01/2025.

Khoảng 06 giờ ngày 19/01/2025, L đến bếp ăn Công ty Công nghệ Lens

Việt Nam để làm việc. Khi L đang thay quần áo tại khu vực tủ đồ cá nhân đặt tại tòa nhà V04 của Công ty để vào làm việc thì nhận được tin nhắn của quản lý báo ngày 19/01/2025 L được nghỉ. L lấy quần áo trong tủ cá nhân để mặc đi về thì thấy cánh tủ đồ số 32 của A Nguyễn Văn T làm cùng Công ty không khóa, chỉ khép hờ. Lúc này, L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong tủ đồ của A T. Quan sát xung quA không có người, L dùng tay phải mở cánh tủ của A T, thấy bên trong có một ví da mầu nâu, có ghi chữ “BALLY”. L dùng tay phải lấy trộm ví cất vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi ra ngoài khu vực bếp ăn. L vừa đi vừa kiểm tra ví thì thấy bên trong có: căn cước công dân, đăng ký xe mô tô, giấy phép lái xe mô tô, thẻ Ngân hàng đều mang tên Nguyễn Văn T và số tiền 13.350.000 đồng (gồm: 25 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 06 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng). L lấy toàn bộ số tiền trên cất vào túi quần sau bên phải đang mặc, đồng thời L đi đến khu vực nghỉ chờ của công nhân trong khuôn viên Công ty, ở cạnh nhà bếp bỏ lại ví bên trong có giấy tờ cá nhân của A T ở bãi cỏ rồi đi khỏi Công ty. Số tiền lấy trộm được, L sử dụng 2.000.000 đồng để trả nợ khoản tiền vay trước đó cho A Trần Hải A, sử dụng 1.800.000 đồng mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus 128GB để sử dụng, còn lại tiếp tục chi tiêu cá nhân hết.

Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày 19/01/2025, ông Nguyễn Văn Định là

bảo vệ của Công ty Công nghệ Lens Việt Nam đi tuần an ninh đã nhặt được chiếc ví da màu nâu của A T bị trộm cắp, bên trong có: 01 căn cước công dân, 01 đăng ký xe mô tô, 01 giấy phép lái xe mô tô, 01 thẻ ngân hàng đều mang tên Nguyễn Văn T, sinh năm 1996, trú tại thôn Ngọc, xã Thạch Bình, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình rồi đem trả lại A T.

Ngày 21/01/2025, A Nguyễn Văn T có đơn trình báo Đồn Công an Quang

Châu về việc bị mất trộm số tiền 13.350.000 đồng để trong ví màu nâu ở trong tủ đồ cá nhân tại Công ty Công nghệ Lens vào ngày 19/01/2025; đồng thời giao nộp chiếc ví da màu nâu, có ghi chữ “BALLY” cùng bản sao các giấy tờ nêu trên khi để trong ví. Cùng ngày 21/01/2025, biết hành vi trộm cắp tài sản đã bị phát hiện nên Bùi Mạnh L đến Đồn Công an Quang Châu đầu thú và giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus 128GB dùng tiền trộm cắp để mua. Sau đó Đồn Công an Quang Châu đã bàn giao L cùng vật chứng, tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Việt Yên để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 24/01/2025, Cơ quan điều tra cho Bùi Mạnh L nhận dạng đối với

chiếc ví da màu nâu A T giao nộp, kết quả L nhận dạng và xác định chiếc ví là tài sản L trộm cắp ngày 19/01/2025 như nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTS ngày 24/02/2025, Hội

đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Việt Yên kết luận: Chiếc ví da

màu nâu, có ghi chữ “BALLY” tại thời điểm trộm cắp ngày 19/01/2025 có trị giá

50.000 đồng.

Đối với anh Trần Hải A và anh Nguyễn Văn V đều không biết tiền L dùng

trả nợ và mua điện thoại di động là do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra

không đề cập xử lý.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc ví da màu nâu, có ghi chữ

“BALLY cho anh Nguyễn Văn T; đưa các bản sao giấy tờ cá nhân thu giữ của

anh T vào hồ sơ vụ án, còn lại điện thoại di động được nhập kho vật chứng để xử

lý theo pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Ông Bùi Đình T là bố đẻ bị cáo Bùi Mạnh L đã bồi

thường cho A Nguyễn Văn T toàn bộ số tiền 13.350.000 đồng; hiện tại anh T

không có yêu cầu bồi thường dân sự, ông T không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã

bỏ ra bồi thường thay.

Tại bản cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 13/3/2025 của Viện kiểm sát nhân

dân thị xã Việt Yên đã truy tố Bùi Mạnh L phạm về tội “Trộm cắp tài sản" theo

khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo L thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình

như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không nhận lại 01 điện thoại di động nhãn

hiệu Iphone 7 Plus 128GB mà bị cáo đã dùng tiền trộm cắp để mua, bị cáo đề

nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Ông Bùi Đình T không yêu cầu bị cáo L trả lại 13.350.000 đồng ông đã bỏ

ra bồi thường cho bị hại thay cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên tham gia phiên tòa giữ

nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Bùi Mạnh L về tội

“Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng,

giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đã đề nghị áp dụng khoản 1

Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự

2015; xử phạt bị cáo từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử

thách từ 16 đến 20 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị

cáo. Ngoài ra còn đề nghị về án phí, xử lý vật chứng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị hại và người có quyền lợi liên quan đến vụ án đều đã được triệu tập

hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét việc vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến

kết quả xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng

hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra

viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên là đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Chứng cứ xác định bị cáo có tội: Khoảng 06 giờ ngày 19/01/2025, tại khu

vực tủ đồ cá nhân của công nhân làm việc tại bếp ăn ở tòa nhà V04 Công ty trách nhiệm hữu hạn Công nghệ Lens Việt Nam, địa chỉ ở Khu công nghiệp Quang Châu, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang; lợi dụng tủ đồ số 32 của A Nguyễn Văn T không khóa, xung quA không có người, Bùi Mạnh L đã lén lút trộm cắp được trong tủ: 01 ví da màu nâu, có ghi chữ “BALLY” trị giá 50.000 đồng, số tiền 13.350.000 đồng cùng một số giấy tờ cá nhân để trong ví đều là tài sản, giấy tờ của A T. Tổng trị giá tài sản Bùi Mạnh L trộm cắp của A Nguyễn Văn T là 13.400.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sư.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L không phải chịu tình

tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo

thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường thiệt hại, sau khi phạm tội bị phát hiện đã đến Công an đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi

phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa luôn thành khẩn khai báo, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo. Do vậy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Việt Yên truy tố bị cáo Bùi Mạnh L và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ theo luật và được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo L hiện không có việc làm, không có thu

nhập, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Sau khi trộm cắp bị cáo có dùng tiền trộm được để mua 01

điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus 128GB nhưng nay bị cáo không nhận lại và đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung công nên cần chấp nhận.

Về tránh nhiệm dân sự: Bị hại A Nguyễn Văn T đã nhận đủ toàn bộ số

tiền 13.350.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên tại phiên tòa không đặt ra xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn

15 ngày kể từ ngày T án. Bị hại, người có quyền lợi liên quan vắng mặt được

quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;

Điều 65 Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Bùi Mạnh L 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng kể từ

ngày T án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Ngọc Lý, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc

Giang để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử

thách, nếu người hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi

hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành

hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải

chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới

theo quy định tại điều 56 Bộ luật Hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo

thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố

tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu

Iphone 7 Plus 128GB màu vàng imei 359189071778805

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ

luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH

14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí

Bị cáo Bùi Mạnh L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, người liên quan có mặt biết được quyền kháng cáo trong

thời hạn 15 ngày kể từ ngày T án. Bị hại, người có quyền lợi liên quan vắng mặt

được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt án.

Cỡ chữ